Tín ngưỡng thờ Mẫu và mấy nỗi lo về văn hóa

Rằng:

Ngày 1/12/2016, “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã chính thức được UNESCO công nhận là  Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; đây là di sản thứ 10 của Việt Nam trong danh sách này. Nghĩ đến những di sản văn hóa đã được công nhận trước đó như Nhã nhạc Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên hay đờn ca tài tử Nam Bộ,… mình thấy lo nhiều hơn mừng.

Sau khi được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia năm 2013, tín ngưỡng thờ Mẫu (TNTM) xuất hiện nhiều hơn trên các phương tiện thông tin đại chúng thông các bài báo, tài liệu nghiên cứu hay các đoạn phim. Việc “phủ sóng” này thể hiện sự hiện diện và đóng góp của TNTM trong xã hội hiện nay, đồng thời cũng là một trong những tiêu chí để TNTM được xét duyệt trở thành di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO. Đây cũng là điều mình lo lắng: TNTM được UNESCO công nhận rồi…sao nữa? Liệu sau đó TNTM có còn được bảo tồn một cách rình rang như 3 năm trở  lại đây, hay nó sẽ lại chịu chung số phận tha hóa hoặc trở thành vật phẩm kinh doanh như hát quan họ, nhã nhạc Huế, đờn ca tài tử?

Mình có dịp về miền Tây mấy bận, lần nào cũng được tiếp đãi bởi đặc sản đờn ca tài tử, lần nào cũng giông giống, duy chỉ có lần gần đây nhất (2016) thì hướng dẫn viên thêm câu “Đờn ca tài tử Nam Bộ là di sản văn hóa phi vật thể do UNESCO công nhận năm 2013”. Mình háo hức để được nghe các câu vọng cổ bao nhiêu thì lại thất vọng khi xem biểu diễn bấy nhiêu. Những câu hát quá sơ sài so với một hệ thống “đờn ca tài tử” giàu có của ông bà để lại, một “đờn ca tài tử” rất du lịch, rất thương mại, “hiện đại” mà xót xa. Ca sĩ trước khi hát ôm bình bông giả để gần người nghe để có thêm tiền “bo”, cũng như ở làng quan họ, liền anh liền chị chìa nó quai thao về phía khán giả… Nhã nhạc Huế nhan nhản dọc bờ sông Hương, 50 000VND/ vé đã có thể vừa đi thuyền vừa xem “di sản văn hóa phi vật thể UNESCO”. Hay ta phá nát rừng Tây Nguyên mà vẫn tin rằng “không gian văn hóa cồng chiêng” sẽ không bị ảnh hưởng. Có thể mình khó tính, nhưng những cảnh đó làm mình đau lòng.

Mình cho rằng “văn hóa” là một chủ thể sống –  động: “sống” và “động”. Dù cho vật đổi sao dời, cái gọi là “văn hóa” trước hết phải “sống” qua những câu chuyện kể, lời ca tiếng hát, được truyền từ đời này qua đời khác qua nhiều hình thức khác nhau mà không cần phải chờ đến một sự công nhận từ bên ngoài ta mới nhận ra nó “sống”. Chẳng hạn, người mình luôn dặn nhau đừng ở ác, thương người, thờ mẹ kính cha, nhớ ơn ông bà,… Đó là những đặc điểm của TNTM, một cách tự nhiên ta sẽ phê phán việc nào là đúng, việc nào là sai, điều gì nên làm, điều gì không nên; bởi ta dùng “văn hóa” soi chiếu. Đó là cái “sống” của văn hóa. Sống rồi, “văn hóa” còn phải “động”, nghĩa là nó phải được tự do biểu đạt, được tự do chọn lựa con đường biến đổi của mình sao cho phù hợp với xã hội. “Văn hóa” không nên là “hiện vật” trưng bày trong tủ kính, bị đóng khung trong một không – thời gian nào đó để lúc nào cần thì chỉ cần trả tiền là có thể chiêm ngưỡng,  như cách ta đã làm với tài tử Nam bộ, với nhã nhạc, với quan họ Bắc Ninh. Do vậy cách chúng ta “làm văn hóa” cũng nên mềm mại và “sống động” như thế.

Dĩ nhiên, để tồn tại (không phải “sống”), văn hóa, hay đúng hơn là những người làm văn hóa cũng phải sống được với “nghề văn hóa”. Mình không giận những ca sĩ đã cầm bình hoa giả mời chào, không hờn liền anh liền chị hay những người đã chèo kéo mình lên thuyền nghe ca Huế; nhưng mình mong sao một ngày nào đó, những “tài tử” miền Nam, những liền anh, liền chị hay các ca nương có thể được trân trọng một cách xứng đáng về vật chất lẫn tinh thần. Mình mong sao một ngày nào đó “văn hóa” được quan tâm và đầu tư để phát triển bền vững cùng với các trụ cột khác như “môi trường”, “kinh tế”, “xã hội”.  Cái khó của “văn hóa”  so với “kinh tế” là nó khó đo lường, lại lâu thấy kết quả; kỳ thực, cho đến khi mệt mỏi tự dưng muốn nghe câu vọng cổ, lúc buồn miên man muốn tìm điểm tựa niềm tin hay chỉ đơn giản là thương nhau hát cho nhau nghe mấy câu quan họ, ta mới “ồ” lên một tiếng: hóa ra “văn hóa” gần đến vậy, cần thiết đến vậy.

Sau “tin mừng” TNTM được UNESCO công nhận, không biết rồi TNTM sẽ thay đổi như thế nào. Mong sao không có cảnh giành giật nhau từng miếng “lộc”, không có cảnh chèo kéo để xem “hầu đồng”, không có những cái vái lạy đòi hỏi đủ thứ trên đời; mong sao chỉ có tiếng thì thầm bảo ban nhau “ở hiền thì lại gặp lành/ người ngay thì được Phật tiên độ trì”, chỉ có những gương mặt say sưa cùng giai điệu lúc “hầu đồng”, chỉ có những tấm lòng lương thiện đối đãi nhau trong đời sống. Ấy là cốt yếu của TNTM vậy…

Mình nhớ ba vẫn hay kể về kỷ niệm được nghe “đờn ca tài tử” thứ thiệt những ngày ba theo chân người nông dân miền Tây công tác. Đó là đêm trăng sáng, giữa cánh đồng trống vừa gặt xong, mùi thơm lúa mới hãy còn lưu luyến và cơn gió đồng nhè nhẹ, những người nông dân và ba ngồi trên chòi cao, họ ca say sưa về đồng áng, về bà con chòm xóm: thích cái gì ca cái đó, tự nhiên vô cùng. Những vị tài tử ấy với cái tánh hồn hậu sẵn có chắc chẳng nghĩ đến một UNESCO xa xôi nào đó công nhận cho họ…

12/01/2016 – Bờm

Nguồn:

  1. http://dantri.com.vn/van-hoa/tin-nguong-tho-mau-chinh-thuc-tro-thanh-di-san-cua-nhan-loai-20161201225928026.htm
  2. Phụ lục: Định nghĩ của UNESCO về “di sản văn hóa phi vật thể” (Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể – 2003) http://www.unesco.org/culture/ich/doc/src/00009-VI-PDF.pdf
    “Di sản văn hóa phi vật thể” được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người. Vì những mục đích của Công ước này, chỉ xét đến những di sản văn hóa phi vật thể phù hợp với các văn kiện Quốc tế hiện hành về quyền con người, cũng như những yêu cầu về sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng, các nhóm người và cá nhân, và về phát triển bền vững.
Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s