Chuyện thực tập: Thị trường – nó là nó thôi

Chuyện thực tập – Thị trường: nó là nó thôi
Rằng:
1. Thiệt lòng mà nói, kỳ thực tập của mình không hẳn là một kỳ thực tập mà nó giống một cuộc hành trình đi tầm sư để cầu đạo. Trước giờ mình vẫn luôn yêu thích văn hóa – lịch sử và mình luôn mong sao có thể làm gì đó để lưu giữ các bạn ấy nhưng không phải theo phong cách “bảo tàng”. Dĩ nhiên là chính mình vẫn còn đang mông lung với định nghĩa “vănhóa”, “lịch sử” cũng như chuyện mình sẽ “làm” gì. Mình chỉ biết là mình quý nó, mình muốn nó “tự sống” nghĩa là có thể tạo ra lợi nhuận nhưng đồng thời cũng mang lại các giá trị tinh thần. Những trăn trở và cảm giác đó mình gọi là “thấy ngôi sao Bắc Đẩu, biết mình sẽ đi nhưng chưa biết đi như thế nào”.


2. Trước đến giờ mình vẫn luôn “làm con sen” cho một tổ chức về văn hóa – giáo dục; gọi là “tổ chức” thôi, nhóm neo người nhưng “lay lất” cũng đã sống cùng với văn hóa suốt 7 năm nay, đủ loại “hình tướng” để tìm cách kinh doanh văn hóa – lịch sử nhưng làm sao cho nó không bị “thương mại hóa”quá mức. Khó, thiệt, khó kinh khủng; bởi vì cách mình nhìn về “văn hóa” luôn là những giá trị… cao quý gì đó mà “thương mại hóa” là điều mình không chấp nhận được. Mình cũng không thích cái gì liên quan đến “văn hóa” mà tràn lan, nhưng mình cũng lo lắng khi thấy “văn hóa” loay hoay với kinh tế. Thành ra đợt thực tập này chính là “cầu sư” chỉ dạy cho mình những mảng kiến thức về thị trường, về kinh tế, marketing; tóm lại là “ngón” nào có thể giúp “văn hóa” làm ra tiền ấy.


3. Bài học đầu tiên ở Hà Nội, chị sếp gọi là “phân dải sản phẩm”. Trước đó, chị hỏi mình [đến tận cùng] những dự định của mình trong tương lai, cách mình định nghĩa văn hóa – lịch sử, cả những điều mình “bức xúc” nữa. Sau khi nghe mình trình bày, chị cho rằng vấn đề của mình không phải là muốn làm gì, hay “văn hóa” kiểu gì mà lại nằm ở chỗ mình chưa biết cách phân dải sản phẩm, hay đúng hơn là con đường mình chọn cho “sản phẩm văn hóa” đã quá hẹp nên mình bế tắc. Để dễ minh họa cho bài học, mình và chị thống nhất lấy câu chuyện thổ cẩm, thi thoảng dùng thị trường du học để bình luận.


4. Đợt rồi em gái mình đến thăm làng dệt thổ cẩm của người Chăm rồi tiếc nuối vì thổ cẩm nơi đó đang có dấu hiệu mai một do thương mại hóa: các họa tiết mang nhiều ý nghĩa dần tiêu biến, dùng màu nhuộm hóa học thay vì màu nhuộm tự nhiên, nghệ nhân dệt không nhiều và giảm dần, vv. Lúc đó mình đã hờn trách những người làm du lịch tại lại không bảo tồn thổ cẩm Chăm “đàng hoàng tử tế” như vốn quý của nó, tại sao không dùng nguyên liệu và màu tự nhiên, tại sao không mở lớp dạy các nghệ nhân để tiếp nối, vv. Đến đây, chị sếp mới hỏi mình rằng “Như vậy sẽ có bao nhiêu người đủ nhận thức và điều kiện để tiêu thụ sản phẩm của em? Sẽ cần bao nhiêu nguồn lực để nghiên cứu và phát triển phần nền tảng và ‘văn hóa’ mà em nói? Quan trọng là “văn hóa” không thể sống mãi sống hoài bằng nguồn tài trợ; do vậy mà luôn phải phân dải sản phẩm ra: dải sản phẩm phục vụ công chúng với giá phải chăng, đại trà như vậy mới là nguồn thu chính, đồng thời nguồn thu đó sẽ “nuôi” cho những sản phẩm đòi hỏi sự đầu tư hơn. Mà những sản phẩm “đầu tư” kia thực chất chỉ là sản phẩm để làm thương hiệu [brand], câu chuyện lợi nhuận – kinh tế lại khác.”


5. Trong một thị trường tự do, nếu tôn trọng luật chơi ta sẽ có cung và cầu; hễ có cầu thì sẽ có cung. Giả dụ như câu chuyện thổ cẩm Chăm kia, nếu như người ta biết cách quản lý hơn, dùng nguồn lợi thu được từ các sản phẩm đại trà để nghiên cứu, đào tạo và giữ gìn thổ cẩm đòi hỏi nhiều kỹ thuật hơn thì mâu thuẫn mà mình đặt ra sẽ được giải quyết phần nào. Vấn đề lúc này nằm ở chỗ nhóm sản phẩm đòi hỏi nhiều công phu hơn thì giá thành sẽ cao hơn, và dĩ nhiên “kén” khách hàng hơn; trong khi nhóm sản phẩm đại trà vẫn nằm trong khoảng “chấp nhận được”và mang lại lợi nhuận. Và những dải sản phẩm đó thực chất luôn tồn tại trong “thị trường”, nhưng mình có đủ bình tĩnh và khách quan để nhìn ra hay không…


6. Nghe đến đây mình chợt nghĩ có thể trước đến giờ mình đã luôn dùng “văn hóa” để biện minh cho việc mình đã hạn chế đường ra của sản phẩm trong khi mình lại luôn cổ xúy cho việc “văn hóa là sự lựa chọn” [tự do]. Thị trường hay khách hàng lẽ ra họ cũng có sự tự do lựa chọn như vậy, ta không thể ỷ vào “văn hóa” để tự ép mình và tự ép thị trường; mà vốn dĩ không thể “ép” được thị trường. Lúc này mình cảm giác mình như một cô chủ cửa hàng tạp hóa, nhiệm vụ của mình là trưng ra hết những sản phẩm mình có – kết quả của công sức bỏ ra trước đó; còn việc lựa chọn là do người đến mua. Dĩ nhiên sẽ có chuyện mình tác động đến quyết định của khách hàng, nhưng việc này sẽ bàn ở một dịp khác.


7. Tóm lại, khi đối diện với “thị trường”, việc cần làm là bình tĩnh và… ngồi xuống nhìn ngắm nó, ghi nhận lại tất cả những tín hiệu mà nó có, nghiền ngẫm, nghiên cứu rồi mới ra quyết định. Khi ta quá yêu thích hoặc quá tâm huyết để làm một chuyện gì, sự nhiệt tình có thể sẽ cản trở tầm nhìn của mình vì hầu như ta chỉ muốn thấy điều mà ta muốn thấy. Chị sếp hy vọng sau này mình sẽ công tâm và đối xử với thị trường khách quan hơn, như thể nó là thông tin thô vậy đó.


Cuối bài học, mình thấy vui lắm, một niềm vui lành tính như thể mình vừa gỡ được một nút thắt và đi xa khỏi một thái cực cực đoan để về với trung đạo. Mình cảm thấy cái gọi là “đại trà” bây giờ có chức năng của nó, thấy nó dễ thương để chấp nhận hơn, và mình bớt cực đoan hơn khi nghĩ về “kinh tế”, “kinh doanh”. Đồng thời mình thấy trước mắt sao mà nhiều điều phải học, nhiều việc phải làm; nghĩ vậy thôi chỉ muốn… im lặng và học hỏi, bớt đi nhu cầu thể hiện một chút.
Mình hên thiệt.
18/01/2017 – Bờm

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s