làm việc nhóm: độc lập và thống nhất

Rằng:
1. Hôm qua mình vui ơi là vui vì đã giải quyết được một ca khó khi làm việc nhóm với các bạn sinh viên Đài Loan. Lúc đầu mình đã tưởng như mình sẽ bỏ cuộc và xin cô giáo cho mình làm bài cá nhân, mình suýt nữa vì cơn giận mà ghét các bạn trong nhóm, quan trọng hơn suýt nữa mình đánh mất tôn chỉ của mình rằng nhóm nào cũng có thể làm việc được nếu có quy trình.
2. Chuyện là trong lớp “Ecology and Environment Immagination”, cô giáo giao bài tập nhóm là thuyết trình 15 phút về một vấn đề môi trường. Nhóm mình có 6 thành viên, mỗi người học một chuyên ngành khác nhau và quá nửa nhóm đăng ký lớp học để có đủ tín chỉ tốt nghiệp. Ngay khi biết chủ đề, mình đã chủ động hỏi lại cô giáo những kỳ vọng của cô, sau đó cùng mọi người thảo luận và lập nhóm chat trên FB để liên lạc. Tuy vậy, các bạn trong nhóm có vẻ thờ ơ, không đưa ý kiến đóng góp hoặc chỉ seen tin nhắn mà không phản hồi. Chỉ còn 1 tuần nữa là thuyết trình nhưng tụi mình chưa tìm được chủ đề. Thiệt sự mình đã giận, mình không thích làm việc nhóm mà chỉ có một cá nhân cố gắng; nhưng mình lại có cảm giác hình như thái độ thờ ơ ấy không phải là do các bạn hoàn toàn muốn như vậy mà đó là hệ quả của nhiều câu chuyện khác. Vậy là mình bình tĩnh để phân tích.
3. Đầu tiên mình quan sát lại đề bài cô giáo cho: “một vấn đề môi trường đã được giải quyết”, nhưng cùng lúc mình phát hiện đề bài chỉ được giao miệng, không có văn bản trên hệ thống lớp học online, cũng không có chỉ dẫn thực hiện và tiêu chí chấm điểm ngoại trừ các yêu cầu như tất cả thành viên phải tham gia, thời gian 15-20 phút, nhất định phải có Powerpoint. Mình ngờ: phải chăng bạn mình thờ ơ vì các bạn không biết phải làm như thế nào, không biết bắt đầu từ đâu? À ha, vậy lỗi đầu tiên: thiếu quy trình làm việc và sự dõi theo của người hướng dẫn [cô giáo].
Đến đây mình muốn bàn rộng ra một chút về vai trò của giáo viên trong làm việc nhóm. Dạy học theo dự án hay các hình thức “sáng tạo” hay được hiểu là học sinh tích cực chủ động, giáo viên chỉ là người hướng dẫn; kỳ thực, kinh nghiệm 8 năm qua của mình cho thấy không thể so sánh giáo viên hay học sinh ai làm nhiều hơn ai; nhưng vấn đề là ai làm việc gì. Chẳng hạn giáo viên không phải là người trực tiếp làm các bài thuyết trình nhưng giáo viên có vai trò quan trọng trong việc đưa ra đề tài, tiêu chuẩn, quy trình và nhất là sự dõi theo (follow up) cho các nhóm lúc làm việc. Ý mình không phải là giáo viên mỗi ngày phải kè kè hỏi các nhóm đang làm gì, mà mình nghĩ giáo viên nên thiết lập tiêu chuẩn cụ thể giúp họ làm việc ấy. Chẳng hạn cô giáo Xã hội học đã từng giao cho các nhóm phải làm báo cáo mỗi tuần về tiến độ công việc, và các câu hỏi cô đặt ra trong bản báo cáo giúp cho cô biết được nhóm có thực sự làm việc hay không (vì nếu không làm thì không trả lời được), đính kèm với báo cáo là file gần nhất. Giáo viên càng cụ thể, hiểu theo nghĩa hình dung được và định lượng được, thì đôi bên càng thuận lợi. Ví dụ bài thuyết trình phải có 3 phần, mỗi phần phải trả lời câu hỏi nào và giải quyết vấn đề gì, kỳ vọng của giáo viên cho phần đó (chất lượng nội dung, hình thức trình bày, dung lượng, thời gian, vv).
4. Sau đó mình quay sang đối diện với thực tế có phần phũ phàng, mình nhận ra cơn giận của mình xuất phát từ ý muốn của cá nhân không được như ý. Mình thích học, mình thích làm việc nhóm và mình có thời gian để đầu tư cho các bài thuyết trình; do vậy mình kỳ vọng các thành viên khác cũng như thế. Mình bình tĩnh hơn, mình quan sát thấy mỗi thành viên trong nhóm học chuyên ngành khác nhau, lịch học khác nhau, mỗi tuần tụi mình chỉ gặp nhau 1 lần trong lớp, và dĩ nhiên mỗi bạn lại có các việc khác. Mình tự nhắc mình đây là Đại học chứ không phải trường cấp Ba, nơi mình nhóm mỗi ngày, lớp ít học sinh và thuận lợi hơn. Do vậy mình không trách các bạn nữa mà tìm cách nghĩ cho ra một phương pháp làm thuyết trình phù hợp với tình trạng nhóm của mình: đông thành viên, ít gặp nhau, không có sự hào hứng với lớp học, ngôn ngữ [tiếng Anh] hạn chế, và vài vấn đề khác nữa.
5. Mình nhớ bài thuyết trình cuối kỳ của môn Xã hội học, cô giáo đã yêu cầu thuyết trình nhóm với sự tham gia của tất cả các thành viên. Điều đặc biệt là mỗi thành viên tự nghiên cứu độc lập, viết tiểu luận nghiên cứu và trình bày kết quả nghiên cứu của mình trong buổi thuyết trình NHƯNG phải đảm bảo có sự liên kết logic giữa các thành viên. Cách làm này giống như kể một câu chuyện hoặc tìm một điểm chung mà các thành viên nhờ đó liên kết với nhau. Hôm ấy mình đã thuyết trình về nhóm mafia Yakuza ở Nhật Bản, một bạn khác nói về ISIS, một bạn khác nói về các băng đảng buôn bán ma túy. Tụi mình đã tìm được điểm chung là các bài đều nói về “nhóm xã hội” (social groups) và các nhóm ấy “bị” hình thành phần lớn do sức ép từ xã hội hơn là tự thân [họ] muốn như vậy. Mình muốn áp dụng các này cho nhóm hiện tại của lớp Ecology.
6. Mình ví dụ bằng chủ đề “Ô nhiễm biển”. Giả dụ tụi mình cùng phân tích nhà máy F làm ô nhiễm biển vùng V nào đó, mỗi bạn sẽ phải phụ trách một phần như nguyên nhân, thông tin nhà máy F, phản ứng của dân vùng V, thái độ của truyền thông, vv. Tuy nhiên, làm theo cách này đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ giữa các thành viên mà tụi mình lại không có nhiều thời gian gặp nhau. Nên mình hẹn gặp các bạn và trình bày ý tưởng mới. Chủ để “ô nhiễm biển” tương tự như một thư mục mẹ mà mỗi bài thuyết trình (dài 3-4 phút) của mỗi thành viên sẽ giống một thư mục con hoặc một file. Sau khi hỏi kỹ cô giáo, mình cũng định hướng lại bài thuyết trình của nhóm sẽ tập trung khai thác giải pháp và sự đa dạng của các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề “ô nhiễm biển”. Bạn thứ nhất yêu thích hóa học có thể nói thật sơ lược về tác hại của chất thải sinh hoạt do giặt quần áo bằng hóa chất đối với biển và đề xuất cách sử dụng trái bồ hòn gặp quần áo. Một bạn khác trong nhóm thích động vật có thể nói về vấn đề rặng san hô và trách nhiệm của du khách khi tham quan. Nói đến đây bỗng một bạn (ít khi phát biểu) bật ra ý tưởng: cookie – bạn ấy sẽ nói về những chiếc bánh bị đóng gói quá nhiều lớp nylon và lối sống không có rác thải (zero-waste lifestyle) vì bạn để ý biển bây giờ có nhiều rác là nhựa.
Như vậy mỗi thành viên của nhóm sẽ có khoảng trời tự do độc lập nghiên cứu thứ mình thích (miễn là có liên quan đến chủ đề chính) mà vẫn thống nhất với cả nhóm. Mình đóng vai trò là người giới thiệu ban đầu về vấn đề ô nhiễm biển, cũng là người kết luận để chỉ ra logic của các phần thuyết trình.
7. Khoảng 4 ngày nữa tụi mình sẽ thuyết trình, kết quả như thế nào mình sẽ thông báo với các bạn nhé. Dù sao đến thời điểm này nhóm mình đã thể hiện sự hợp tác với nhau hơn, các bạn sốt sắng hỏi nhau đã chuẩn bị đến đâu, áp lực “phải làm” cũng đỡ hơn vì các bạn đã biết bước 1, 2, 3 là phải làm gì. Mình cũng đã kể các bạn nghe mình hơi giận và câu chuyện mình làm việc với cơn giận đó của mình như thế nào; đến lúc này mình thực sự cảm nhận được giá trị của làm việc nhóm.
8. Rút ra một số điều kiện cần thiết để làm việc nhóm: (cho trường hợp này thôi nhé)
– Sự rõ ràng và cụ thể khi giao đề tài của người hướng dẫn; bao gồm các yêu cầu có thể định lượng được, bài mẫu (nếu có), và quy trình thực hiện.
– Sự dõi theo (follow up) một cách khéo léo của người hướng dẫn bằng hệ thống các tiêu chí đánh giá/ quy trình làm việc/ báo cáo.
– Các thành viên hiểu rõ tình hình nhóm, các thực tế có thể hơi phũ phàng (không thích học, học vì tín chỉ, ít thời gian gặp nhau,..) để tìm ra cách làm việc phù hợp.
– Nhóm đưa ra được timeline làm việc với các bước đi rõ ràng, có ví dụ minh họa, ai cần làm gì, và sự liên kết như thế nào.
Chia sẻ khó khăn cho nhau để tìm cách giải quyết vấn đề với tinh thần cầu tiến và thông cảm.
Dĩ nhiên là các tình huống sẽ không bao giờ giống nhau, nhưng mình nghĩ giá trị của làm việc nhóm chính là ở những chiêm nghiệm này, để thông cảm cho nhau hơn, sống cùng nhau tốt hơn, à, hiền hơn nữa.
Bờm
04/05/2017 – Bờm
Advertisements

ta có thể đã rất khác? | freewriting

Rằng:
1. Hôm qua tự dưng mình nghĩ hình như trở thành một ai đó/ một thứ gì đó chưa hẳn đã là lựa chọn tự do của mỗi người. Nếu mình sinh ra ở nơi nào đó khác mà nơi ấy không nói tiếng Việt chẳng hạn, hoặc giả mình được nuôi lớn bởi những món ăn rất khác, nghe những thanh âm khác thì mình có “mình” của bây giờ không? Mình sẽ vẫn thích châu Á hay Đông Bắc Á chứ? Mình sẽ vẫn học tranh học cầm? Mình không biết, thiệt, có lẽ là không.
Và như thầy giáo mình hay nói: “Chúng ta không thể biết những thứ mà ta không biết”.
2. Ba mình, một người sinh ra từ làng, đã cố gắng hết sức để đưa cả gia đình vào thành phố lớn sinh sống với niềm tin mình sẽ có những cơ hội tốt hơn. Mình nghĩ, Sài Gòn, hay những thành phố “lớn” hơn các thành phố khác ở chỗ số lượng các sự lựa chọn phong phú hơn: mình đã thấy, nghe, học và thử nhiều điều khác nhau. Nếu mình không biết ngoài A ra còn có lựa chọn B, C, D, E thì mình có thể không phải là “Bờm” của trang này rồi.
3. Những lựa chọn đến từ đâu trong sự hiểu biết và mối quan hệ của mỗi người nhỉ? Đó có thể là gia đình, văn hóa, những người bạn, hoặc đôi khi tình cờ là người lạ chỉ cùng ta hội ngộ trong vài giây phút. Thành ra mình nghĩ lựa chọn vốn dĩ là có giới hạn. Đi nhiều, được thấy nhiều thứ chính là làm phong phú số lượng lựa chọn lên. Cơ mà chọn cái gì lại là… câu chuyện khác.
4. Thí dụ bây giờ mình không là mình bây giờ mà mình làm việc khác, những lựa chọn khả dĩ trong quá khứ, thì thứ gì mới thực sự là “mình” (-self)? Mình nghĩ cái self đó chính là đứa đang quan sát và viết lại những dòng này và như vậy trở thành cái gì, làm cái gì chỉ đều là những vai diễn của cuộc sống này. Đời sống là điệu múa, con người là vũ công, nhưng dù sao cũng đã lên sân khấu rồi nên phải thể hiện hết mình. Miễn là mình vẫn nhận thức được mình đang làm việc đó, nhận thức được sự giới hạn, nhận thức được có một self đang quan sát những gì mình làm.
* Câu hỏi “nếu không làm những gì bạn đang làm của hiện tại, thì bạn sẽ làm gì?” cũng là một câu hỏi mà nhóm The School of Life gợi ý cho các bạn muốn lựa chọn hoặc có ý định chuyển đổi công việc 🙂
Viết ngày 03/04/2017 – Bờm

Ghi chép từ lớp học: mấy ý nghĩ khi xem “Into the woods”

Rằng:

1.Kỳ này mình có môn “Children’s literature and its creative writings” đặt lại vấn đề của các tác phẩm văn học thiếu nhi, nói đơn giản là con nít lớn đọc lại truyện con nít với “công cụ” để phân tích và bình luận. Bữa nay cô cho tụi mình xem một tác phẩm nhạc kịch tên là “Into the woods” (Tạm dịch: Đi vào rừng) (phiên bản 1991), vở kịch này cũng đã có phiên bản điện ảnh rồi nghen. “Into the wood” do tác giả Stephen Sondheim soạn lời, nguyên tác của James Lapine; tác phẩm là sự hòa trộn của nhiều câu chuyện cổ tích quen thuộc như Công chúa tóc mây (Rapunzel), Lọ Lem, Jack và cây đậu thần, Cô bé quàng khăn đỏ, Người thợ làm bánh và vợ. Tác giả đã khéo léo cho tất cả các câu chuyện đan xen với nhau trong một ngôi làng và biểu tượng để liên kết chính là khu rừng (the woods). Mỗi nhân vật đều có lý do để đi vào rừng: bác làm bánh vào rừng tìm các vật phẩm mụ phù thủy yêu cầu, cô bé quàng khăn đỏ băng rừng đi tìm bà ngoại, Jack đi qua rừng để đến chợ bán bò,… Thông qua biểu tượng khu rừng, rất nhiều, nhiều lắm nghen, những triết lý cuộc sống về tình yêu, gia đình, con cái, mối quan hệ, đạo đức,… được thể hiện một cách sống động. Mình đã chăm chú xem “Into the woods” và cảm giác như chính mình cũng đang đi vào rừng vậy.

—-

2. Có quá nhiều bài học để rút ra từ tác phẩm nhạc kịch này, xem xong mà mình thẩn thờ nghĩ ngợi đến no bụng, cặm cụi ghi ghi chép chép vào kịch bản những suy tưởng của riêng mình. Bài này mình chọn hình ảnh khu rừng để bàn. Thiệt ra nếu để ý kỹ thì ta sẽ thấy đa số các câu chuyện cổ tích đều có một chi tiết “u tối” ví dụ như khu rừng hoặc chốn nào đó đại loại thế – nơi các nút thắt được tạo ra và cũng được gỡ nút. Khu rừng có thể là nơi tăm tối, nguy hiểm và đáng sợ nhưng nó là nơi những cuộc hành trình (the journeys) bắt đầu. Mỗi nhân vật trong tác phẩm lại có mục đích riêng khi vào rừng nhưng điểm chung là họ đều phải đi. Cô giáo mình bảo “nếu không có chi tiết đi vào rừng sẽ chẳng có câu chuyện cổ tích nào cả, nếu chỉ ở nhà thì chẳng có chuyện gì xảy ra, cái gọi là ‘hạnh phúc đến suốt đời’ cũng không được sinh thành bởi lẽ nhân vật có trải qua gian nan và thử thách trong rừng đâu”. Ra vậy, nơi tăm tối như khu rừng lại chính là nơi tạo nên “chuyện”, ngày từ đêm sinh ra, hạnh phúc do khổ đau mang thai. Ra vậy. “Into the woods/ To get the thing/ That makes it worth/The journeying.”

3. Trước khi vào rừng hầu như nhân vật nào cũng sợ hãi: sợ ma, sợ chó sói, sợ lạc đường dù cho họ [các nhân vật] đã biết rõ điều mình ước, điều mình muốn, thậm chí biết cả đường đi. Những lời hát lại vang lên “The woods are just trees/ The trees are just wood/ No need to be afraid there…” (Tạm dịch: rừng chỉ có cây, cây là rừng, không cần phải lo lắng). Cô bé quàng khăn đỏ đã hát cô sợ vào rừng nhưng cùng lúc lại háo hức, bác làm bánh mang nỗi sợ mụ phù thủy vào rừng nhưng cũng đem theo hy vọng về đứa con (lời hứa của mụ phù thủy nếu bác đáp ứng hết yêu cầu của bà), nàng Lọ Lem sợ cảnh u tối của rừng nhưng vẫn ước mơ được đến vũ hội,.. Nỗi sợ song hành cùng với niềm hy vọng mà khoảng cách được đo bằng hai tiếng “hối hận” – nếu không thử sẽ không biết hành trình dẫn mình đến đâu, ai biết được là may mắn hay bất hạnh, nhưng chắc chắn nếu không thử, ta sẽ mãi ân hận vì đã không bước lên. Do vậy mà cuối tác phẩm có câu hát “Đừng quá cẩn trọng, đừng quá thông minh”, ý ở đây là đôi khi sự phân tích, so sánh, do dự [thái quá] sẽ khiến ta chần chừ, nỗi sợ làm ta phân vân và cơ hội sẽ vụt mất. Biết đâu đấy việc mà ta sợ thực chất lại nhỏ hơn nỗi sợ của chúng ta rất nhiều? Thiệt ra mình thấy các nhân vật sợ rừng là vì họ sợ không đạt được ước mơ mà thôi 🙂

4. Chi tiết mình tâm đắc nhất khi xem “Into the woods” đó là các nhân vật dần thay đổi khi phải đối diện với việc đưa ra quyết định lúc ở trong rừng. Bác làm bánh phải cướp chiếc khăn choàng đỏ vì làm như vậy bác mới có con, nhưng cướp đi chiếc khăn cô bé sẽ khóc. Vợ bác đã biện minh bằng cách nói mục đích tốt đẹp thì mọi phương tiện để đạt được mục đích ấy đều không quan trọng, rằng ai trong đời cũng nói dối vì mục đích của bản thân nên vấn đề là “kích cỡ” của lời nói dối ấy, điều gì là đúng – điều gì là sai tất cả do “mục đích” quyết định. Bác làm bánh đã dằn vặt, đau khổ vì thực tế ấy; bác muốn giữ sự đạo đức của mình nhưng bác cũng muốn đứa con. (Mà có con có phải là một điều tốt hay không?). Cuối cùng bác lựa chọn trả lại khăn cho cô bé để rồi cái kết bất ngờ lại đến với bác. Những chi tiết như vậy cứ chồng chéo trong suốt 2 tiếng diễn, khó để liệt kê hết ở đây nên gửi link để bạn xem  nghen. Nhạc hay, diễn viên “diễn sâu” và rất giải trí nhé. https://www.youtube.com/watch?v=MP8fw_LhOOg

Bạn có suy tưởng gì có thể gửi lại cho mình nhé, tụi mình cùng nhau thảo luận.

08/03/2017 – Bờm

(Nguồn hình http://wallpapersafari.com/w/K8kqIs/)

Chuyện ở công ty

Rằng:
1. Sáng nay vừa bước vào văn phòng, anh đồng nghiệp đã vội đứng dậy, tiến về phía mình và tặng… một quả trứng. Anh cẩn thận dạy “trứng này không có cồ đâu, anh đã luộc rồi, bữa trưa của em nhé”. Lát sau lại nghe chị Kế Toán nói trứng ấy là gà nhà anh nuôi, mình chỉ thấy cái trứng trong tay cưng ơi là cưng.

2. Trong công ty mình là người duy nhất ăn chay (chế độ ăn của mình vẫn còn trứng và sữa, để bạn đỡ nhọc công thắc mắc nghen) nên thi thoảng mình cùng các anh chị hay đùa nhau “Bờm là động vật… ăn cỏ”. Có lần anh Chanh nghe mình nói vậy bèn đớp lại “Nghe em nói chuyện mà cảm giác như ‘tâm sự của một con bò’”vậy đó. Xét thấy con bò cũng dễ thương nên mình phì cười rồi… thôi. Cũng từ ngày mình về công ty thực tập, chị Kế Toán (kiêm người bảo hộ an ninh lương thực ở công ty) tăng cường rau cho bữa ăn, từ 2 món rau có hôm lên đến 4-5 món rau. Hì hì…

3. Đợt này mình ra không có thầy đi cùng, thế là anh Bolero thay thầy “thồ” mình mỗi ngày. (gọi là anh Bolero vì lúc nào cũng nghe dòng nhạc này). Nhà anh ở xa công ty, mỗi sáng đi qua bên mình phải vòng một đoạn, thành ra mình thấy thương anh ghê, bèn nói “thôi ráng nha anh, em hành anh mấy hôm nữa thôi”. Anh cười khì khì, đúng nghĩa “khì khì” nha, rồi nói “rất vui được phục vụ mà” 😀

4. Mỗi lần lên lớp do sếp trực tiêp giảng dạy, mọi người lại ngồi với nhau như lớp học. Bữa nọ trong lớp mình buồn ngủ quá bèn quay sang nói với chị Bơ “ôi ôi chị ơi em muốn ngủ ghê”. Chị cười hiền dịu rồi bảo “để chị tát cho một phát rồi tỉnh, nhá”. Mình tỉnh luôn.

5. Gọi là chị Bơ bởi vì lần trước đi làm chị xách lên một cây bơ non, nghe nói là kết quả gieo hạt từ một trái bơ chị ăn thấy ngon quá. Mọi người xúm lại trêu chị “đến bao giờ công ty mới có bơ ăn nhỉ, có cần trồng hộ không”. Chị Bơ cười không đáp lại được nhưng cứ mân mê mấy cái lá bơ, coi bộ tràn trề hy vọng lắm. Mình sẽ note lại ngày này để đợi mười năm nữa ăn bơ của chị. Nghe đâu Tết này chị ấy đã hộ tống em bơ về quê 😀

6. Hai hôm nay mình hướng dẫn thiền nằm (buông thư) để giúp cả nhà thư giãn. Lúc tập xong mỗi anh chị lại cho một ý kiến nhận xét nghe mà… không nhịn được cười. Có người nói thấy mình “lạc trôi” đi xứ nào đấy; chị Bơ nói thấy chân nặng, anh Bolero thì hí hửng “anh thấy khí trên tay kiểu như phim chưởng ấy”; còn anh Chanh thì lăn ra ngủ không nhớ trời trăng mây sao gì. Dù sao thì ít nhất mình cũng đã có chút đóng góp cho cả nhà, nghĩ còn có 4 hôm ở đây nữa thôi mà cũng hơi hơi buồn rồi nè.

10/02/2017 – Bờm

khí tác sơn hà

Rằng:
1. “Khí tác sơn hà”, mình đã lẩm nhẩm đọc như vậy khi nhìn thấy bức hoành phi này và hình như đây là bức hoành phi đầu tiên viết chữ Hán mà mình đọc trọn vẹn được nội dung của nó. Bác bảo vệ của di tích đứng gần đó đã ồ lên ngạc nhiên, tỏ vẻ thích thú “bạn trẻ này biết đọc chữ này nữa à, hay thế”. Thiệt ra mình chẳng giỏi đến mức vậy đâu, mình chỉ đọc được vài chữ ít ỏi mà thôi; nhưng cảm giác hiểu được những gì ông bà đời trước viết sao mà rưng rưng đến lạ.

2. Mình vẫn luôn cảm thấy day dứt mỗi khi đối diện với một tài liệu Hán văn của đời trước để lại mà mình chẳng thể hiểu, cảm giác của sự đứt gãy về văn hóa mà mỗi lần nghĩ đến mình lại thấy xót xa. Đó không chỉ là lời hay ý đẹp để lại mà đôi khi có thể là những tài liệu quý giá để chúng ta tham khảo, ứng dụng cho các vấn đề hiện đại. Dĩ nhiên không thể phủ nhận sự tiện lợi của chữ quốc ngữ, nhưng mình vẫn mong sao một ngày nào đó người Việt sẽ “dắt túi” được ít nhất một ngàn chữ Hán mỗi người; đủ để đọc được các bức hoành phi như thế này, đủ để có một chút cảm nhận gì đó với “tổ tiên”. Anh bạn người Hàn kể với mình rằng học sinh THPT ở Hàn Quốc luôn được yêu cần phải học 1500 chữ Hán căn bản để hiểu các từ vựng Hàn ngữ có gốc Hán và học triết lý phương Đông trên những mặt chữ vuông ấy. Nghe anh kể mà mình thèm ơi là thèm.

3. Mình không muốn gợi lại màn tranh luận học hay không học chữ Hán bởi lẽ học hay không học bây giờ thuộc về “sự lựa chọn”. Mình chỉ muốn bày ra ở đây thêm một sự lựa chọn nữa: lựa chọn kết nối với lịch sử, với những người đã đi trước ta, với những di sản mà thế hệ đi trước góp nhặt được. Người ta bảo học thêm một ngôn ngữ là sống thêm một đời sống, còn mình thì chỉ không muốn tự biến mình thành “người nước ngoài” trên chính quê hương mình.
04/02/2017 – Bờm

Chuyện thực tập: Thị trường – nó là nó thôi

Chuyện thực tập – Thị trường: nó là nó thôi
Rằng:
1. Thiệt lòng mà nói, kỳ thực tập của mình không hẳn là một kỳ thực tập mà nó giống một cuộc hành trình đi tầm sư để cầu đạo. Trước giờ mình vẫn luôn yêu thích văn hóa – lịch sử và mình luôn mong sao có thể làm gì đó để lưu giữ các bạn ấy nhưng không phải theo phong cách “bảo tàng”. Dĩ nhiên là chính mình vẫn còn đang mông lung với định nghĩa “vănhóa”, “lịch sử” cũng như chuyện mình sẽ “làm” gì. Mình chỉ biết là mình quý nó, mình muốn nó “tự sống” nghĩa là có thể tạo ra lợi nhuận nhưng đồng thời cũng mang lại các giá trị tinh thần. Những trăn trở và cảm giác đó mình gọi là “thấy ngôi sao Bắc Đẩu, biết mình sẽ đi nhưng chưa biết đi như thế nào”.


2. Trước đến giờ mình vẫn luôn “làm con sen” cho một tổ chức về văn hóa – giáo dục; gọi là “tổ chức” thôi, nhóm neo người nhưng “lay lất” cũng đã sống cùng với văn hóa suốt 7 năm nay, đủ loại “hình tướng” để tìm cách kinh doanh văn hóa – lịch sử nhưng làm sao cho nó không bị “thương mại hóa”quá mức. Khó, thiệt, khó kinh khủng; bởi vì cách mình nhìn về “văn hóa” luôn là những giá trị… cao quý gì đó mà “thương mại hóa” là điều mình không chấp nhận được. Mình cũng không thích cái gì liên quan đến “văn hóa” mà tràn lan, nhưng mình cũng lo lắng khi thấy “văn hóa” loay hoay với kinh tế. Thành ra đợt thực tập này chính là “cầu sư” chỉ dạy cho mình những mảng kiến thức về thị trường, về kinh tế, marketing; tóm lại là “ngón” nào có thể giúp “văn hóa” làm ra tiền ấy.


3. Bài học đầu tiên ở Hà Nội, chị sếp gọi là “phân dải sản phẩm”. Trước đó, chị hỏi mình [đến tận cùng] những dự định của mình trong tương lai, cách mình định nghĩa văn hóa – lịch sử, cả những điều mình “bức xúc” nữa. Sau khi nghe mình trình bày, chị cho rằng vấn đề của mình không phải là muốn làm gì, hay “văn hóa” kiểu gì mà lại nằm ở chỗ mình chưa biết cách phân dải sản phẩm, hay đúng hơn là con đường mình chọn cho “sản phẩm văn hóa” đã quá hẹp nên mình bế tắc. Để dễ minh họa cho bài học, mình và chị thống nhất lấy câu chuyện thổ cẩm, thi thoảng dùng thị trường du học để bình luận.


4. Đợt rồi em gái mình đến thăm làng dệt thổ cẩm của người Chăm rồi tiếc nuối vì thổ cẩm nơi đó đang có dấu hiệu mai một do thương mại hóa: các họa tiết mang nhiều ý nghĩa dần tiêu biến, dùng màu nhuộm hóa học thay vì màu nhuộm tự nhiên, nghệ nhân dệt không nhiều và giảm dần, vv. Lúc đó mình đã hờn trách những người làm du lịch tại lại không bảo tồn thổ cẩm Chăm “đàng hoàng tử tế” như vốn quý của nó, tại sao không dùng nguyên liệu và màu tự nhiên, tại sao không mở lớp dạy các nghệ nhân để tiếp nối, vv. Đến đây, chị sếp mới hỏi mình rằng “Như vậy sẽ có bao nhiêu người đủ nhận thức và điều kiện để tiêu thụ sản phẩm của em? Sẽ cần bao nhiêu nguồn lực để nghiên cứu và phát triển phần nền tảng và ‘văn hóa’ mà em nói? Quan trọng là “văn hóa” không thể sống mãi sống hoài bằng nguồn tài trợ; do vậy mà luôn phải phân dải sản phẩm ra: dải sản phẩm phục vụ công chúng với giá phải chăng, đại trà như vậy mới là nguồn thu chính, đồng thời nguồn thu đó sẽ “nuôi” cho những sản phẩm đòi hỏi sự đầu tư hơn. Mà những sản phẩm “đầu tư” kia thực chất chỉ là sản phẩm để làm thương hiệu [brand], câu chuyện lợi nhuận – kinh tế lại khác.”


5. Trong một thị trường tự do, nếu tôn trọng luật chơi ta sẽ có cung và cầu; hễ có cầu thì sẽ có cung. Giả dụ như câu chuyện thổ cẩm Chăm kia, nếu như người ta biết cách quản lý hơn, dùng nguồn lợi thu được từ các sản phẩm đại trà để nghiên cứu, đào tạo và giữ gìn thổ cẩm đòi hỏi nhiều kỹ thuật hơn thì mâu thuẫn mà mình đặt ra sẽ được giải quyết phần nào. Vấn đề lúc này nằm ở chỗ nhóm sản phẩm đòi hỏi nhiều công phu hơn thì giá thành sẽ cao hơn, và dĩ nhiên “kén” khách hàng hơn; trong khi nhóm sản phẩm đại trà vẫn nằm trong khoảng “chấp nhận được”và mang lại lợi nhuận. Và những dải sản phẩm đó thực chất luôn tồn tại trong “thị trường”, nhưng mình có đủ bình tĩnh và khách quan để nhìn ra hay không…


6. Nghe đến đây mình chợt nghĩ có thể trước đến giờ mình đã luôn dùng “văn hóa” để biện minh cho việc mình đã hạn chế đường ra của sản phẩm trong khi mình lại luôn cổ xúy cho việc “văn hóa là sự lựa chọn” [tự do]. Thị trường hay khách hàng lẽ ra họ cũng có sự tự do lựa chọn như vậy, ta không thể ỷ vào “văn hóa” để tự ép mình và tự ép thị trường; mà vốn dĩ không thể “ép” được thị trường. Lúc này mình cảm giác mình như một cô chủ cửa hàng tạp hóa, nhiệm vụ của mình là trưng ra hết những sản phẩm mình có – kết quả của công sức bỏ ra trước đó; còn việc lựa chọn là do người đến mua. Dĩ nhiên sẽ có chuyện mình tác động đến quyết định của khách hàng, nhưng việc này sẽ bàn ở một dịp khác.


7. Tóm lại, khi đối diện với “thị trường”, việc cần làm là bình tĩnh và… ngồi xuống nhìn ngắm nó, ghi nhận lại tất cả những tín hiệu mà nó có, nghiền ngẫm, nghiên cứu rồi mới ra quyết định. Khi ta quá yêu thích hoặc quá tâm huyết để làm một chuyện gì, sự nhiệt tình có thể sẽ cản trở tầm nhìn của mình vì hầu như ta chỉ muốn thấy điều mà ta muốn thấy. Chị sếp hy vọng sau này mình sẽ công tâm và đối xử với thị trường khách quan hơn, như thể nó là thông tin thô vậy đó.


Cuối bài học, mình thấy vui lắm, một niềm vui lành tính như thể mình vừa gỡ được một nút thắt và đi xa khỏi một thái cực cực đoan để về với trung đạo. Mình cảm thấy cái gọi là “đại trà” bây giờ có chức năng của nó, thấy nó dễ thương để chấp nhận hơn, và mình bớt cực đoan hơn khi nghĩ về “kinh tế”, “kinh doanh”. Đồng thời mình thấy trước mắt sao mà nhiều điều phải học, nhiều việc phải làm; nghĩ vậy thôi chỉ muốn… im lặng và học hỏi, bớt đi nhu cầu thể hiện một chút.
Mình hên thiệt.
18/01/2017 – Bờm

Chuyện thực tập – Kỳ 1: Nghiên cứu

Rằng:
1. Đợt này mình ra Hà Nội thực tập ở một công ty chuyên về tư vấn du học với tâm nguyện sẽ được thực hành khóa marketing vừa học kỳ trước, đặc biệt là mảng marketing sản phẩm dịch vụ và sản phẩm ‘đặc biệt’ như văn hóa, lịch sử chẳng hạn. Mình hay đùa là mình đang đi tìm con đường “buôn bán” văn hóa. Có chị Ố Queo hỏi mình vì sao thích lịch sử – văn hóa lại thực tập ở công ty tư vấn du học, mình trả lời “quan trọng là em muốn học phương pháp”. Lịch sử – văn hóa cũng cần phải sống, cả về nghĩa kinh tế lẫn các giá trị tinh thần (và nhiều câu chuyện khác nữa); nó [lịch sử – văn hóa] không thể ỷ y rằng mình hay để khiến người khác quan tâm. Mình đã từng ở tận cùng của sự cực đoan đến mức giận hờn trách móc đại chúng vì sao quay lưng lại với văn hóa – lịch sử, nên bây giờ mình Bắc tiến để tìm câu trả lời đưa mình về trung đạo. Còn lý do tại sao mình chọn công ty này hay vì sao mình xin chị Sếp hướng dẫn cho mình thì lại là câu chuyện dài thiệt dài.

2. Thiệt ra cũng không dài lắm đâu, vì mình cảm nhận được sự đầu tư và tâm huyết của chị đối với công việc tư vấn du học (ngôn ngữ đường thời gọi là “có tâm”), đồng thời phương pháp làm việc của chị “có chất” nên mình biết mình phải tìm đến chị. Mỗi ngày ở công ty chị sẽ giao cho mình nhiệm vụ để xử lý, sau đó quan sát và đánh giá cách mình giải quyết vấn đề; cuối ngày hai chị em sẽ “tách chiết” những phương pháp đã sử dụng với việc tư vấn du học để áp dụng vào vấn đề văn hóa – lịch sử mà mình mang theo, chúng mình đối thoại, có phản biện, có phân tích, có đặt câu hỏi và có… đồ ăn nữa.

3. Ngày đầu tiên đi học việc, mình được hướng dẫn về kỷ luật làm việc. Chị Sếp mình đề cao kỷ luật và sự nghiêm túc dù là làm nghiên cứu hay tư vấn cho khách hàng. Mình được giao vào nhóm nghiên cứu, thi thoảng có được giao nhiệm vụ giải quyết một số việc nho nhỏ để “biết mùi”. Nếu vào phòng làm việc của công ty, bạn sẽ có cảm giác nơi đây giống thư viện: bàn ghế được xếp gọn gàng ngăn ngắn, mỗi thành viên của nhóm nghiên cứu ngồi ở nơi mình chọn và chuyên tâm làm công việc mình được giao. Không gian được yêu cầu phải giữ yên lặng để không ảnh hưởng đến công việc của người khác. À, “tua” lại một chút, trước khi yên vị tại vị trí làm việc, mình được hướng dẫn lau cái bàn bằng hai thứ khăn (khăn khô và khăn ướt) ra làm sao, cất đồ đạc gọn gàng vào tủ locker như thế nào, rửa bàn tay cho sạch trước khi vào không gian chung và sau đó thì… chiến.

4. Ngày trước đứng dưới góc độ khách hàng yêu cầu sản phẩm, mình ít khi để ý đến quá trình chuẩn bị để làm ra sản phẩm đó. Khi được giao vào nhóm nghiên cứu, mình vỡ lẽ sự công phu của việc đào xới tìm kiếm thông tin, tổng hợp, phân tích hay thậm chí “vét cạn” tất cả các trường hợp có thể là yêu cầu cần thiết để làm bất kỳ việc gì, kể cả tư vấn du học hay “kinh doanh”văn hóa – lịch sử. Chị Sếp nói “quan trọng là phải tôn trọng quy trình nghiên cứu, nghĩa là biết kế thừa trước khi sáng tạo hay phát triển”. “Kế thừa” ở đây là thu thập và học hỏi những gì đã có trước đó, hay chị Sếp gọi là “lịch sử nghiên cứu”; thậm chí thầy Trâu Lớn còn nói “cứ bắt chước đi con rồi sau đấy hẵng sáng tạo”. Chị Sếp kể khi chị tuyển dụng, đa phần các bạn đã quen thuộc với kiểu “chụp giựt”, nghĩa là khi được giao chủ đề sẽ ngay lập tức viết ra cần phải làm gì giải quyết cái gì mà chưa chịu ngồi xuống bình tĩnh nghiền ngẫm câu hỏi, tìm các tài liệu đã “cày xới” chủ đề này trước đó, so sánh đối chiếu xem ai đã giải quyết vấn đề này, vv. Ở đây chị phê phán việc làm nghiên cứu mà bỏ qua sự “kế thừa”, chưa có “vốn”, chưa hiểu cho tường tận mà đã muốn sáng tạo, giải quyết.

5. Mình ví dụ nè. Chị giao cho mình một bức thư dài hơn ba trang giấy của một bạn đang sử dụng dịch vụ tư vấn du học của công ty. Trong thư bạn liệt kê tất cả “vốn liếng” bạn có từ học lực, hoạt động ngoại khóa cho đến khả năng ngoại ngữ, nỗ lực cá nhân để tăng cơ hội được trường Đại học (ở Gia Nã Đại) chấp nhận. Thư bạn viết rất đầy đủ, nhiều cảm xúc nhưng Statement of Purpose của bạn đọc lên vẫn chưa đủ ấn tượng, cảm giác “sao sao” mà không biết “sao” chỗ nào. Mình được giao nhiệm vụ giải quyết cái “sao sao” đó. Đầu tiên mình chưa vội phân tích input [thư của bạn khách hàng] mà mở máy tìm hiểu về ngành và trường bạn ấy chọn. Đối với trường, mình tìm những phẩm chất mà trường đề cao cũng như định hướng mà họ hướng tới cho sinh viên; đối với ngành mình tìm những phẩm chất mà ngành nghề yêu cầu. Ở cả hai đối tượng, mình lọc ra hệ thống từ khóa [key words] – những từ hay xuất hiện nhất qua các bài viết hoặc những từ được nhấn mạnh, từ đó hình dung ra một bạn sinh viên tiềm năng mà ngôi trường này đang tìm kiếm.

6. Kế đến mình đọc lại thư của bạn khách hàng với góc nhìn của một người trong hội đồng tuyển sinh. Mình dùng bút chì ghi chép lại các điểm quan trọng, gạch bớt các thông tin không cần thiết, vừa đọc vừa lý giải cái “sao sao” trước đó. Mình cũng lọc ra các ý mà bạn khách nói, sau đó nhóm chúng lại thành các mảng như tiểu sử, kinh nghiệm, kỹ năng, động lực, vv. Cuối cùng mình phát hiện ra “cái sao sao” ở đây là một chút “lửa” trong thư của bạn: bạn yêu thích và muốn xin vào trường nhưng thư chưa thể hiện hết quyết tâm; đồng thời giữa bạn và hình ảnh “sinh viên tiềm năng” mà trường kỳ vọng vẫn còn khoảng cách. Dĩ nhiên đây là một sự thiên vị cho bất kỳ việc tuyển sinh hay tuyển dụng nào, thầy giáo dạy Communications mình bảo ví dụ dễ thấy nhất là khi đi phỏng vấn xin việc ta được kỳ vọng mặc vest trang trọng trong khi chính ta chưa [hoặc ít] va chạm trong môi trường ấy. Sau đấy mình hỗ trợ bạn khách sắp xếp lại bố cục thư, nhóm các ý vào các ý lớn, đưa những chi tiết có liên quan lên vào thư và buông bớt một số thông tin thừa.

7. Chị Sếp bảo chị vui lòng khi thấy mình làm như vậy vì “có thể em đã vội vàng giải quyết ngay khi chị giao thư, nhưng em đã có bước nghiên cứu và kế thừa di sản trước khi chỉnh sửa và chị đánh giá cao phương pháp này”. Sau đấy chị em mình thảo luận sâu hơn về chuyện ai cũng có thể tuyên bố làm nghiên cứu thì phải có phương pháp A phương pháp B nhưng thực sự bắt tay vào làm sẽ bao nhiêu người, chưa kể những vất vả khó khăn trong quá trình nghiên cứu sẽ khiến người ta lung lay. Mình và chị còn bàn về chuyện tác quyền bản quyền tại Việt Nam còn quá lỏng lẻo nên chuyện copy-paste diễn ra đơn giản, nội dung nghiên cưu không được coi trọng và chuyện sinh viên [theo kinh nghiệm tuyển dụng của chị] bị quen với cách làm việc bề mặt nên hầu như chị phải luôn đào tạo lại.

8. Thế nào là nghiên cứu, một công trình nghiên cưu phải như thế nào, thái độ nào khi làm nghiên cứu, phương pháp nào, kế thừa và phát triển như thế nào cho “đúng”… Ngày hôm nay mình đã giải quyết được một số câu hỏi như vậy. Mình có chia sẻ lại với chị câu chuyện người trẻ học âm nhạc dân tộc, chưa học “tới nơi tới chốn”, nghĩa là am tường hết cái nền “cổ” đã muốn cách tân âm nhạc khiến cho cái “cổ” bị mai một mà cái “mới” cũng đứng không vững; thành ra mình học nhạc cũng chỉ mong sao “đàn y chang thầy cô em là em mừng rồi, còn sự sáng tạo hay đổi mới, “chỉ cần 0.0001% khác thôi cũng đã là khác”, chị Sếp tiếp lời. Giống như chuyện “Bút bi là phủ định của bút máy” hay “Bút máy là phủ định của bút chì” vậy đó.
11/01/2017 – Bờm