ta có thể đã rất khác? | freewriting

Rằng:
1. Hôm qua tự dưng mình nghĩ hình như trở thành một ai đó/ một thứ gì đó chưa hẳn đã là lựa chọn tự do của mỗi người. Nếu mình sinh ra ở nơi nào đó khác mà nơi ấy không nói tiếng Việt chẳng hạn, hoặc giả mình được nuôi lớn bởi những món ăn rất khác, nghe những thanh âm khác thì mình có “mình” của bây giờ không? Mình sẽ vẫn thích châu Á hay Đông Bắc Á chứ? Mình sẽ vẫn học tranh học cầm? Mình không biết, thiệt, có lẽ là không.
Và như thầy giáo mình hay nói: “Chúng ta không thể biết những thứ mà ta không biết”.
2. Ba mình, một người sinh ra từ làng, đã cố gắng hết sức để đưa cả gia đình vào thành phố lớn sinh sống với niềm tin mình sẽ có những cơ hội tốt hơn. Mình nghĩ, Sài Gòn, hay những thành phố “lớn” hơn các thành phố khác ở chỗ số lượng các sự lựa chọn phong phú hơn: mình đã thấy, nghe, học và thử nhiều điều khác nhau. Nếu mình không biết ngoài A ra còn có lựa chọn B, C, D, E thì mình có thể không phải là “Bờm” của trang này rồi.
3. Những lựa chọn đến từ đâu trong sự hiểu biết và mối quan hệ của mỗi người nhỉ? Đó có thể là gia đình, văn hóa, những người bạn, hoặc đôi khi tình cờ là người lạ chỉ cùng ta hội ngộ trong vài giây phút. Thành ra mình nghĩ lựa chọn vốn dĩ là có giới hạn. Đi nhiều, được thấy nhiều thứ chính là làm phong phú số lượng lựa chọn lên. Cơ mà chọn cái gì lại là… câu chuyện khác.
4. Thí dụ bây giờ mình không là mình bây giờ mà mình làm việc khác, những lựa chọn khả dĩ trong quá khứ, thì thứ gì mới thực sự là “mình” (-self)? Mình nghĩ cái self đó chính là đứa đang quan sát và viết lại những dòng này và như vậy trở thành cái gì, làm cái gì chỉ đều là những vai diễn của cuộc sống này. Đời sống là điệu múa, con người là vũ công, nhưng dù sao cũng đã lên sân khấu rồi nên phải thể hiện hết mình. Miễn là mình vẫn nhận thức được mình đang làm việc đó, nhận thức được sự giới hạn, nhận thức được có một self đang quan sát những gì mình làm.
* Câu hỏi “nếu không làm những gì bạn đang làm của hiện tại, thì bạn sẽ làm gì?” cũng là một câu hỏi mà nhóm The School of Life gợi ý cho các bạn muốn lựa chọn hoặc có ý định chuyển đổi công việc 🙂
Viết ngày 03/04/2017 – Bờm

color of reality

Rằng:

Hôm nay mình vừa mới thi xong môn “Individual Perspective”, từ “thi”có vẻ hơi lớn lao vì lớp này thiệt ra là hành trình nhìn nhận và đinh vị lại bản thân. Mình đã chia sẻ một số bài học trong lớp trong thư mục Liberal Arts về giới tính [xã hội], thuyết công lợi, thuyết hiện sinh, bổn tính con người, vv; bữa nay mình tiếp tục tường thực lớp học mà mình rất thích này với chủ đề chủng tộc (race) nghen.

Hình minh họa được chụp từ một…video phim ngắn có tên là “Color of reality” (chứ không phải tranh vẽ heng). Phim do đạo diễn Jon Boogz thực hiện; cũng chính anh và một bạn diễn khác Lil Buck là hai diễn viên chính trong phim sử dụng các động tác cơ thể, âm nhạc và mỹ thuật để đưa ra nhiều thông điệp xã hội. Phim bắt đầu bằng cảnh hai vũ công da đen nghe tin cảnh sát đã bắn một người da màu nào đó; xúc động hai vũ công đã đứng dậy và thực hiện các động tác nhảy jookin trên khung cảnh căn phòng giống hệt bức tranh vẽ. Sau đó hai người mở cửa đi ra thế giới thật mà trong bài phỏng vấn với New York Times, Jon Boogz gọi là “the human experience” (tạm dịch: trải nghiệm nhân loại). Hai người đã bị kỳ thị và chối bỏ bởi nhiều người xung quanh; cảnh cuối họ bị bắn chết trên đường phố, máy quay lia cao gần hiện ra những tòa cao ốc,  khu mua sắm, vv.

Lớp mình đã thảo luận rất sôi nổi về ý nghĩa của phim ngắn này, cô giáo chia làm 3 chủ đề: Chủng tộc, Nghệ thuật sử dụng trong phim và Cách thức truyền tải thông điệp của “Color of reality”. Mỗi bạn đều có một góc nhìn khác nhau (và nếu các bạn xem video mình tin mỗi bạn cũng thu lượm cho mình những ý kiến khác nhau). Mình tóm lược lại một số ý kiến trong lớp mình nha.

Vấn đề chủng tộc trong “Color of reality” là câu chuyện những người Mỹ gốc Phi hoặc người da màu nói chung bị kỳ thị, phân biệt đối xử ở Mỹ nói riêng và “phương Tây” nói chung. Quá khứ nô lệ đã qua đi và sự phân biệt đối xử cũng đã được giảm nhẹ phần nào nhưng dường như phân biệt chủng tộc vẫn luôn là một cái dằm nhức nhối trong xã hội nước Mỹ; có một bạn cho rằng phân biệt chủng tộc (racist) thực ra chưa bao giờ chấm dứt mà chỉ trở nên vi tế hơn, khó nhận diện hơn mà thôi. #blacklivesmatter là một hashtag nổi tiếng cho các phong trào chống lại phân biệt chủng tộc của người gốc Phi tại Mỹ bao gồm các hoạt động biểu tình ôn hòa, chia sẻ các thông điệp trên mạng xã hội, sự kiện văn hóa, vv. Cùng thời điểm lớp mình học bài này có 2-3 vụ cảnh sát bắn người gốc Phi tại Mỹ, một nhóm người Mỹ gốc Việt (và người Mỹ gốc Á) nói chung đã tổ chức biểu tình #balcklivesmatter để ủng hộ nhóm người Mỹ gốc Phi với thông điệp. Tuy vậy, một điều mình chú ý là khi các phong trào phản đối phân biệt đối xử diễn ra, dường như “người da trắng” cũng đang bị chính các nhóm-biểu-tình kỳ thị với cái nhãn “người da trắng chỉ kỳ thị”. Và nếu #blacklivesmatter thì #whitelivesmatter có đúng không? Đối với những người gốc Phi hoặc gốc Á hoặc gốc gì đi nữa sinh tại Mỹ, ảnh hưởng bởi văn hóa Mỹ, nói tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất thì những người đó có được xem là “người Mỹ” không? Khi nói đến “người Mỹ” bạn hình dung ra một người như thế nào? Người gốc Phi hay người gốc Á có phân biệt đối xử không? Chúng ta đang phản đối việc phân biệt đối xử hay đang vô tình tạo ra những sự kỳ thị khác?

Về nghệ thuật sử dụng trong phim, mình không giỏi ở mảng này nên chỉ nhặt được những chia sẻ từ các bạn và cô giáo. Đầu tiên là hình thức tranh 3D sáng tạo nè, rồi phong cách vẽ khiến người ta liên tưởng đến những bức tranh treo trong bảo tàng; dù phong cách này “không phải của người châu Phi”; âm nhạc trong phim cũng được khéo léo lồng vào, là tiếng piano, một lần nữa cũng “không phải của người châu Phi”. Có bạn cho rằng việc sử dụng các nguyên liệu văn hóa của châu Âu và “phương Tây” là một cách khiến cho video trở nên gần gũi hơn, dễ đi vào lòng người hơn và thu hút được nhiều đồng mình hơn đến từ các nhóm xã hội khác. Mình thì nghĩ cái nào hay thì dung, văn hóa vốn dĩ không có sự phân biệt…

Cuối cùng, về cách truyền tải thông điệp; rõ ràng nhất là #blacklivesmatter nhưng bên cạnh đó vẫn có những thông điệp khác mà khán giả tự quyết. Ví dụ như cô mình nhìn thấy vấn đề nữ quyền khi trong phim chỉ xuất hiện đúng một diễn viên nữ nhưng lại đang ở tình trạng “nạn nhân”; bạn mình nhìn thấy thông điệp về nghệ thuật: vai trò của người nghệ sĩ và nghệ thuật trong các phong trào xã hội; một bạn khác nhìn thấy thông điệp #alllivesmatter – tất cả mọi người đều có ảnh hưởng chứ không chỉ riêng người da trắng hay da đen hay da màu; một bạn khác thấy vấn đề của luật pháp, nhà nước về việc quản lý sở hữu súng. vv

Vai trò của cá nhân (individual) sẽ được nhìn nhận như thế nào, mời bạn xem phim và nghiền ngẫm 🙂

12/12/2016 – Bờm

http://www.alexameade.com/colorofreality/

là con gái…thì như thế nào?

Rằng:

Nối tiếp loạt bài từ lớp “Individual perspective”, hôm nay tụi mình thảo luận tác phẩm “Girl” (Jamaica Kincad). Mình sẽ tóm tắt nội dung chính của “Girl” và tường thuật một số điểm từ bài thuyết trình của các bạn trong lớp.

Mặc dù được xếp vào nhóm truyện ngắn nhưng kết cấu của “Girl” có phần đặc biệt vì truyện chỉ có hai nhân vật – mẹ và con gái, trong đó người mẹ đang giảng giải cho con mình không nên làm gì và phải làm gì để là một cô gái đúng nghĩa. Bạn có thể tìm đọc “Girl” hoặc xem video chính tác giả đọc với đường link ở cuối bài nghen. Từ đầu đến cuối bài giáo huấn, chỉ thấy 3 lần con gái đáp lại mẹ, còn lại đều là các lời dặn dò của mẹ cô; trong đó có 31 lần “đây là cách con làm…” và số lượng tương tự cho “đừng làm…”. Thi thoảng người mẹ còn cảnh cáo con mình đừng mơ trở thành “the slut” (đứa con gái hư) mà theo định nghĩa của bà là những cô gái không tuân theo sự giáo huấn ấy.

“Girl” mở ra buổi thảo lụân sôi nổi cho lớp về “giới tính” (gender) và những gì xã hội đang kỳ vọng “nam” hay “nữ” phải thể hiện. Không chỉ bàn về “girl”, tụi mình còn đặt câu hỏi “xã hội kỳ vọng như thế nào về ‘boys’?” (con trai). Theo dõi tác phẩm của Kincad, dễ thấy vai trò “nội trợ” – trông nom việc nhà cửa bếp núc được tô đậm như là nghĩa vụ và trách nhiệm của các cô gái. Ngược lại các bạn nam trong lớp chia sẻ mình được kỳ vọng phải “mạnh mẽ”, “không được khóc”, “bảo vệ cho người khác”, “cứng rắn”,… Mục đích của bài học này cũng chính là nhìn ra những giới hạn mà chúng ta đang bị dán nhãn bởi “giới tính” (Gender).

Trong bài thuyết trình của các bạn cùng lớp, “giới tính” (gender) được các bạn định nghĩa là những kỳ vọng hoặc quy ước xã hội lên cá nhân; bạn mình dùng hình ảnh “chiếc hộp giới tính” để so sánh. Nhà xã hội học Mary Holmes cho rằng các nhà xã hội học bắt đầu phân định giữa “sex” và “gender” từ những năm 1970; trong đó “sex” là sự phân biệt giống đực – cái dựa trên cấu tạo sinh học và “gender” là sự phân biệt về giới tính (nam – nữ) dựa trên kỳ vọng xã hội. Trong bài viết này mình dùng từ của các bạn “gender” với cách tạm dịch là “giới tính”, bạn có thể hiểu là “giới tính xã hội”. Quay trở lại với bài thuyết trình, bạn mình cho rằng ám ảnh về giới tính có ở khắp mọi nơi; trong khuôn khổ bình luận về “Girls” bạn mình dẫn ví dụ chủ yếu của nữ giới (chứ không phải mình không xem trọng nam giới nha!). Bạn dẫn ví dụ từ một bài TedX Talk về một thí nghiệm trong kỳ thi IB nếu như câu hỏi “Male or Female” được đặt ở cuối bài làm thay vì đầu bài thì các cô gái sẽ làm tốt hơn. Diễn giả ấy cho rằng việc ngay từ đầu đã nhắc đến giới tính sẽ khiến những định kiến về nữ giới được gợi ra, trong đó có những tư tưởng như “con gái không giỏi toán”, “con gái không thông minh”,… từ đó ảnh hưởng đến kết quả bài làm.

Một bạn khác cùng nhóm trình bày về chủ nghĩa phân biệt giới tính (sexism) bằng cách hỏi lớp những biểu hiện của sự phân biệt giới tính mà chúng mình thấy trong đời sống hằng ngày. Chẳng hạn khi các em bé ra đời hay được mặc định con trai nên chơi robot và thích màu xanh, trong khi các em gái sẽ chơi búp bê và thích màu hồng. Cách đây một năm trong lớp xã hội học cô giáo mình cũng ví dụ một khảo sát nhỏ cô tự làm bằng cách tra các mẫu đồ chơi trên website một thương hiệu nổi tiếng. Kết quả cô để ý những món đồ cho các bé trai hay được đặt tên như “anh hùng”, “siêu nhân” với màu đen, xanh đậm; trong khi các món đồ cho bé gái được đặt tên như “công chúa”, “ngọt ngào”, hoa lan” và có màu sáng rực rỡ như hồng, đỏ. Tuy nhiên bạn mình lại cho rằng ở thế kỷ 21, bình đẳng giới [ hiểu theo nghĩa nữ giới không bị kỳ vọng phải hành động như thế này thế kia] đã có phần được cải thiện vì mọi người đang thay đổi. Một bạn trong lớp không đồng ý, bạn cho rằng không phải là “cải thiện” mà sự phân biệt [sexism] đã trở nên tinh vi hơn, khó nhận ra hơn.

Phim “Hema hema, sing me a song while I am waiting” kể về tập tục truyền thống của một nhóm người Bhutan: hễ cứ 12 năm một lần những người đăng ký sẽ đeo mặt nạ và sống chung với nhau như bình thường dưới sự giám sát của những người canh giữ. Mình nhớ trong phim, già làng đã nói việc đeo mặt nạ là để giấu đi căn tính [identity] của mỗi người mà ông định nghĩa là tên, tuổi, thậm chí là giới tính. Già làng nói “các ngươi hãy nghĩ mình đã chết và chuẩn bị được sinh ra lần nữa, ở đây các ngươi không có căn tính mà các ngươi sẽ tìm trong suốt thời gian sống tại đây, không tên không tuổi; các ngươi mặc váy để che giấu giới tính bởi vì đó là sự lựa chọn cá nhân…”

Từ lúc nào có sự phân định về giới tính (sex và gender)? Từ lúc nào “nam” hay “nữ” được kỳ vọng phải thể hiện như thế này thế kia? Có thật là tất cả các xã hội và nền văn hoá đều xếp “nữ” vào vai trò “nội trợ” và họ nhận được ít “quyền lợi” hơn so với “nam”? Có phải là “nam” thì sẽ có ít kỳ vọng hơn? Là con trai hay người nam thì sẽ như thế nào? Ý nghĩa của việc là “con gái” hay “con trai” là như thế nào về mặt sinh học, chức năng, xã hội? Liệu chúng ta có thể vượt lên trên sự phân biệt ấy không? Chúng ta ở đâu giữa các căn tính ấy? Có thể có nhiều hơn 2 giới tính không? “Giới” là gì, “tính” là gì? Ai có quyền định nghĩa và dạy ta làm thế nào để là “girl” hay “boy”? Tại sao lại có sự phân biệt đó, nó có chức năng gì cho xã hội? Ta là ai?
Mời bạn tiếp tục ngẫm nghĩ.

25/11/2016 – Bờm
Tài liệu tham khảo:
1. Girl, Jamaica Kincad https://www.youtube.com/watch?v=AHr1HYW0mKE
2. What is gender? Socialogical Approaches. Marry Holmes. https://libcom.org/files/Mary%20Holmes%20What%20is%20Gender%20Sociological%20Approaches.pdf

nhân chi sơ tính bổn gì?

Rằng:

“Trái với yêu không phải là ghét, mà là sự lãng quên. Trái với nghệ thuật không phải là sự xấu xí mà là sự lãng quên. Trái với sự sống không phải là cái chết mà là sự lãng quên…”

Câu ở trên được trích từ hồi ký “Night” [Tạm dịch: Đêm tối] đã đạt giải Nobel của nhà văn người Do Thái Elie Wisel. Trong “Night”, ông kể lại những ngày tháng kinh hoàng của ông khi còn là một cậu bé 16 tuổi trong trại tập trung với niềm tin “người sống sót” như ông phải có trách nhiệm kể lại lịch sử. Hình minh họa là những người sống sót từ trại tập trung Buchenwald (Đức) trong chiến tranh thế giới thứ 2, Elie nằm ở hàng thứ hai, thứ bảy đếm từ trái qua. Bài viết này mình ghi lại mấy điểm chính từ bài thuyết trình của các bạn cùng lớp.

Cô giáo cho tụi mình đọc phần lời bạt, chương đầu và chương cuối của “Night”, sau này cô có hối hận là nên cho tụi mình đọc hết sách. Tuy không đọc hết nhưng từ các chương được giao tụi mình đã mường tượng được chuyện gì đang xảy ra. Mùa xuân năm 1944, cậu bé Elie Wisel bị bắt giải vào trại tập trung cùng với  người cha ốm yếu, bệnh tật của mình. Trên đường di chuyển từ trại này sang trại khác cùng với quãng thời gian sống trong trại tập trung, Wisel đã chứng kiến cái chết đau đớn của cha mình, sự đau khổ vì bị hành hạ của những người Do Thái. Đau lòng hơn, theo ông là chứng kiến cảnh nhân tính và tình người bị chà đạp khi người ta sẵn sàng đánh nhau để giành mẩu bánh mì, khi người hành hạ người, khi mỗi ngày hàng trăm người chết hoặc nằm chờ chết, khi con người tuyệt vọng chỉ mong được “ban” cho một phát súng chết đi; thậm chí chính cậu cũng có lúc bị “thử thách” khi dằn xé suy nghĩ có nên chia nước và bánh mì cho cha hay không khi cả Wisel cũng đói lả.

Với những “dữ kiện” đó, bạn mình đã bình luận và đặt ra một số câu hỏi mở.

  1.  Nhờ có đứa con mà người cha ráng gượng sống bằng chút sức lực còn lại, cậu con trai cũng vì cha mà cố gắng. Tuy nhiên, có một lần khi Wisel định chia bánh và nước cho cha thì tên quản trại ngăn lại, nói với cậu rằng lẽ ra cậu đã được ăn nhiều hơn, no hơn, uống nhiều hơn, đỡ khát hơn nếu không chia cho cha cậu. Và Wisel đã khựng lại đặt cho mình vô số câu hỏi. Mối quan hệ cha – con trong hồi ký có ý nghĩa gì? Với một người sắp chết như cha của Wisel thì đây có phải là “gánh nặng” cho Wisel không? Tại sao khi biết nếu cho cha uống thêm nước sẽ không tốt cho ông nhưng Wisel vẫn cho cha vì không muốn thấy cha đau khổ?
  2. Những người ở trại tập trung có lúc rất tuyệt vọng đến mức chỉ muốn chết quách cho xong. Wisel nhìn bầu trời đêm nghĩ về bình minh, hoàng hôn và hy vọng cho một ngày tự do, dù có nhiều khi cậu hoàn toàn mất kết nối với đời sống vì bị hành hạ quá nhiều. Như vậy nghịch cảnh khiến người ta tin vào tương lai hơn hay sẽ tuyệt vọng hơn? Tại sao có những người muốn chết cho xong lại có những người như cậu bé Wisel tiếp tục chờ đợi?
  3.    Con người sinh ra bản chất tốt hay xấu? Nếu ở trong nghịch cảnh phải lựa chọn bảo toàn cho mạng sống của mình thì họ có tốt không? Tại sao những người trong trại tập trung lại đánh nhau giành mẩu bánh mì nhỏ? Tại sao tên quản trại lại rất khoái chí nhìn những người đó xâu xé nhau?

Bạn mình cho rằng “nhân chi sơ tính bổn ác”, bạn bảo con người tham lam chỉ muốn có nhiều hơn mà chẳng muốn dừng lại. Một bạn khác lại cho rằng con người vốn tính thiện vì biết giúp đỡ người khác và biết hy vọng.

Bờm bổ sung thêm: Bàn về bổn tính con người lúc sinh ra trước đây đã có Mạnh Tử (372-289 TCN) cho rằng “Nhân chi sơ tính bổn thiện” vì mỗi người đều có lòng trắc ẩn, biết xấu hổ, biết từ nhượng và biết thị phi [phân biệt đúng sai]. Trái lại Tuân Tử (298-238 TCN) cho rằng “nhân chi sơ tính bổn ác” vì vậy cần phải có các nỗ lực hậu thiên để tu dưỡng tính cách. Tuân Tử dẫn chứng về tính tham lam, nhút nhát, cả nể của con người để chứng minh người bổn tánh là “ác”.

Ở một khía cạnh khác, các triết gia hiện sinh, ví dụ như Jean Paul Satre lại cho rằng con người trước hết là hư vô [không có bản tính người nào hết], số phận [của con người] được xác định do lựa chọn của chính nó [con người]. Con người là dự phóng [hướng về cái mà nó muốn trở thành]. Câu  nói nổi tiếng của thuyết hiện sinh là “hiện hữu có trước bản chất”, nghĩa là mỗi người phải “hiện hữu”, phải sống với đầy đủ hỉ nộ ái ố rồi mới quyết định “bản chất” của mình. Thế nhưng thế nào là “thiện”, thế nào là “ác”? Làm thế nào để biết mình đã chọn được “bản chất”, mời bạn tiếp tục ngẫm nghĩ 🙂

21/11/2016 – Bờm

Tài liệu tham khảo:

  1. Sách “Lịch sử triết học phương Đông viết cho thanh thiếu niên”, tác giả Kang Sung Ryul, NXB Nhã Nam
  2. Ghi chép của mình từ buổi tọa đàm giới thiệu sách “Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản” (Jean Paul Satre) của dịch giả Đinh Hồng Phúc (Link: https://goo.gl/f2VRg4)

Ghi chép từ buổi tọa đàm sách “Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản” (J.P. Satre – Dịch giả Đinh Hồng Phúc)

Rằng:

Mình chia sẻ lại những ghi chép của mình từ buổi tọa đàm học thuật “Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản” (J.P. Satre) do dịch giả Đinh Hồng Phúc chủ trì (Tháng 05/2016) (Link sách: http://goo.gl/IWTucn)
Lưu ý: các tiêu đề trong bài viết là do mình đặt, dựa trên nội dung nói và quãng hơi ngắt nghỉ của dịch giả.

1. Giới thiệu bối cảnh và tác phẩm
1.1. “Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản” là một bài diễn thuyết viết năm 1945, khi Satre còn mang nhiều âm hưởng của Heidegger, với ngôn ngữ đơn giản nhằm biện minh cho thuyết hiện sinh (THS) trước sự phê phán của người Cộng sản và Công giáo. Cụ thể:
1.1a: Người theo chủ nghĩa Cộng Sản [ở Pháp]cho rằng THS là “xa xỉ phẩm của tư sản” vì nó [THS] khiến người khác không còn hành động, tự ru ngủ mình vào nỗi cô đơn duy ngã và cắt đứt quan hệ con người với kinh tế xã hội.
1.1.b: Mặt khác, người Công giáo phê bình THS ở điểm chỉ tập trung vào những phần đen tối, xấu xa của con người. Họ [người Công giáo] đánh giá THS là phi luân, phi đạo lý.

1.2. Đây là tác phẩm được đọc nhiều nhất bởi độ dày vừa phải (thầy dùng từ “ngắn và mỏng”), ngôn ngữ dành cho đại chúng nên dễ đọc; tuy vậy tác phẩm lại mang rất nhiều vấn đề triết học như “vô thần”, “hiện hữu”, “tự do”, “trách nhiệm”, “nhân quả”,…

1.3. Hai luận điểm trung tâm của tác phẩm: Thứ nhất, con người là hữu thể tự do mà không cần bất kỳ một vị thượng đế nào. Thứ hai, chúng ta phải chịu trách nhiệm cho tự do của mình. Tóm lại: Con người tự làm nên chính mình.

2. Giải thích và bình luận về THS và tác phẩm “Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản”

2.1. Trong tác phẩm, Satre phân loại hai nhóm THS: Hiện sinh Kito [hữu thần] và Hiện sinh vô thần. Tuy vậy, dịch giả cho rằng sự phân loại này chưa thực sự thấu đáo vì hai nhóm trên còn có các loại hiện sinh khác, chẳng hạn hiện sinh Do Thái giáo. Dù sao thì điểm chung của các nhóm THS này là đều tập trung phê phán thuyết bản chất – thuyết bản thể cơ bản của phương Tây.

2.2. Tiền đề chính của Satre trong tác phẩm là “Hiện hữu đi trước bản chất”, từ đó phân biệt giữa “tồn tại người” [Dasein] và tồn tại vật. Ví dụ: trước khi sản xuất cây dao rọc giấy, người ta đã cho nó một chức năng “rọc giấy” rồi mới tạo nên hình dáng cây dao. Ta nói chức năng rọc giấy là “bản chất” còn cây dao là “hiện hữu”. Trong trường hợp này “bản chất” đi trước “hiện hữu” [lối tư duy bản chất]. Satre, ngược lại, với khẳng định “hiện hữu đi trước bản chất” cho rằng tồn tại người [Dasein] trước hết phải ra đời, phải sống, phải lựa chọn [hiện hữu] rồi mới xác định mình là ai [bản chất]. Do đó, ông cũng chủ trương con người tự tạo ra chính mình.

2.3 Kết luận của phần này là: Con người trước hết là hư vô [không có bản tính người nào hết], số phận [của con người] được xác định do lựa chọn của chính nó [con người]. Con người là dự phóng [hướng về cái mà nó muốn trở thành].

3. Phân tích và bình luận về “ngụy tín”
Trong “Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản”, Satre có đề cập đến nhiều khái niệm như “lo âu”, “bị bỏ rơi”, “tuyệt vọng”; trong khuôn khổ chương trình, dịch giả chỉ đề cập đến khái niệm “ngụy tín” – một trong những khái niệm quan trọng cần lưu ý.

3.1. “Ngụy tín” là thái độ của con người khi quên mất mình là một “hữu thể tự do” bằng cách đổ lỗi cho những nguyên nhân bên ngoài mà thực chất là ta không giải quyết được các nguyên nhân đó. Ví dụ: cuộc đời tôi sinh ra là thế, đó không phải lỗi của tôi, dòng đời đưa đẩy chứ tôi nào muốn thế, vv.

3.2. Khi nói con người là “hữu thể tự do” và tự do thể hiện ở chỗ “con người tự tạo ra chính mình” thì vấn đề “trách nhiệm” đang được đặt ra. Không ai có thể chịu trách nhiệm cho số phận của ta ngoài chính ta, thậm chí Thượng đế cũng không tác động đến được. Một câu nói nổi tiếng của Satre là “Con người bị kết án phải tự do”, “kết án” để nói rằng bản thân “tồn tại” đã một “sự đã rồi”; còn “tự do” chính là sự thể hiện của một “hữu thể tự do”, anh phải chịu trách nhiệm cho sự lựa chọn của mình. “Ngụy tín” là khi anh làm lơ với trách nhiệm hay với sự tự do lựa chọn ấy. “Ngụy tín” chính là phủ nhận tự do, mà sau đấy thầy Phúc kết luận là “sống không đích thực”.

3.3. Nhắc đến “ngụy tín” thực ra là để biện minh cho THS khi bị hiểu lầm là “bản năng” hoặc “đam mê”. Thầy Phúc có đưa ví dụ thời sinh viên của thầy, mỗi khi các anh muốn đi nhậu thì hay nói “hiện sinh đi mày”; hoặc người ta hay lấy THS để chống chế cho đam mê. Thầy nói, kể cả là đam mê thì ta cũng phải chịu trách nhiệm cho sự đam mê của mình. Ví dụ, khi ta ném một con dao vào một khoáng không trong đem tối, nếu con dao đó gây chết người thì ta vẫn phải chịu trách nhiệm cho hành động ném dao đó, vì ta đã chọn sẽ ném dao.

3.4. Tóm lại: tự do đến dâu – trách nhiệm đến đó; tự do tuyệt đối – trách nhiệm tuyệt đối. Đây cũng là tinh thần “dấn thân” của THS [được hiểu là THS trong tác phẩm này].

4. Tại sao THS lại là một thuyết nhân bản (TNB)?
Quay trở lại với nhan đề tác phẩm, khi tuyên bố THS là một TNB (vốn đã có từ thời Hy – La), Satre đã ngầm ý nói rằng THS là một dòng chảy của TNB chứ không nằm ngoài dòng chảy đó. Thầy Phúc cho rằng TNB là một mạch nhầm xuyên suốt của phương Tây và bài diễn thuyết của Satre là để tuyên bố rằng tôi là một dòng chảy của TNB.

Kết thúc phần nói chuyện, thầy Phúc nhắc chúng ta hãy lưu ý vì tác phẩm “Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản” này được viết trong giai đoạn Satre còn bị ảnh hưởng từ THS của Heidegger; sau khi Satre trình bày tác phẩm này, Heidegger đã gửi thư phản biện Satre và sau đó hai ông “tuyệt giao”. Sau này, trong các tác phẩm của Satre đã loại bỏ hết hệ thống từ vựng của Heidegger mà thay vào đó hệ thống từ vựng khác. Tuy vậy tại Việt Nam các tác phẩm của Satre vẫn chưa được dịch nhiều, do vậy mà việc nghiên cứu Satre vẫn là một vùng đất mở cho các bạn nào quan tâm.

Sài Gòn, 20/05/2015 (Đăng lại từ “Nhật ký học  ngu”)

“những người rời khỏi Omelas” – ai đang trả giá cho hạnh phúc của ta?

Rằng:

Hôm nay mình có bài thuyết trình trong lớp Anh văn, bình luận truyện ngắn “The ones who walk away from Omelas” (Tạm dịch: Những người rời khỏi Omelas) của tác giả Ursula K. Le Guin. Omelas là một thành phố thiên đường vì nơi đó không có chiến tranh, đói nghèo, bạo lực; nơi hạnh phúc ấy chỉ có tiếng cười, những con đường rực rỡ, phố xá đông vui, những con người hớn hở. Tuy nhiên, trong căn hầm tối, chật chội và lạnh lẽo bên dưới tòa nhà trung tâm thành phố có một cậu bé bị giam giữ. Đứa bé ấy nhợt nhạt, ốm o và sợ hãi; nó liên tục gào khóc, nó hứa sẽ ngoan ngoãn nếu được thả ra ngoài. Tất cả công dân Omelas đều biết sự tồn tại của đứa bé, nhưng không ai dám làm gì bởi vì hạnh phúc của thành phố thiên đường phụ thuộc vào đứa bé ấy. Nếu đứa bé được thả ra, tất cả sẽ sụp đổ. Một số cô cậu thanh niên khi đến tuổi trưởng thành biết đến đứa bé dưới căn hầm, họ quyết định bỏ đi, đi thẳng một mạch như thể họ biết điều gì đang chờ đợi ở phía trước. Những người đó không bao giờ trở lại Omelas.

Chuyện xứ Omelas là một ví dụ điển hình cho thuyết công lợi (utilitarianism), một học thuyết nổi bật ở châu Âu thế kỷ XVIII và ảnh hưởng đến kinh tế, chính trị, đạo đức của xã hội đến tận bây giờ. Một cách ngắn gọn thì thuyết công lợi “tìm kiếm hạnh phúc lớn nhất cho số đông” (Bentham), nghĩa là lấy lợi ích sau cùng làm mục đích hành động và tối đa hóa hạnh phúc cho số đông. Cũng cần lưu ý thêm “hạnh phúc” ở đây đang được định nghĩa là sự thỏa mãn và không có khổ đau. Ba cái tên nổi bật của thuyết công lợi là Jeremy Bentham (1748-1832), James Mill (1773-1836) và John Stuart Mill (1806-1873); bạn có thể tìm đọc thêm hoặc xem ở phần tham khảo.

Ví dụ bạn đang muốn xây bệnh viện và đứng giữa hai lựa chọn: thành phố A dân số 200 người và thành phố B dân số 600 người. Áp dụng thuyết công lợi, bạn sẽ chọn thành phố B vì nơi đó nhiều người được hưởng lợi hơn. Tác giả Adam Morton trong quyển “Philosophy in practice” cho rằng ưu điểm của thuyết công lợi là đơn giản (1) để cân đo đong đếm khi quyết định hành động, kết quả dễ dàng hiển hiện (2) khi ta so sánh trên đơn vị sự hài lòng – nỗi đau, và ông [Adam] cũng cho rằng học thuyết này sẽ cân bằng giữa cái tốt – và cái chưa tốt (3). (Ý này có thể hiểu là nếu nhìn xã hội như một hệ thống thì mỗi bộ phận có chức năng của nó, giống như kim tự tháp phải có nền chống đỡ vậy).

Sau đấy mình đưa ra một số ví dụ có “mùi” công lợi như lao động giá rẻ ở các nước đang phát triển thúc đẩy kinh tế thế giới, động vật được thí nghiệm để cho ra các sản phẩm phục vụ con người, việc Mỹ ném bom nguyên tử xuống Nhật để kết thúc chiến tranh thế giới lần II, vv. Mình nhận thấy có một số bạn cảm thấy ái ngại, nhưng tại sao lại như thế, rõ ràng vẫn đang áp dụng thuyết công  lợi mà?

Lúc này, Adam Morton mới đưa ra hai nhược điểm của thuyết công lợi: thứ nhất, người ta có thể dễ dàng “chính đáng hóa” cho những hành động của mình miễn là nó vẫn mang lại hạnh phúc tối đa cho đa số (Ví dụ: án tử hình hay như lao động trẻ em ở các nước Nam Á). Thứ hai, niềm tin nền tảng [tiền giả định] cho học thuyết công lợi là chúng ta lường trước được kết quả, tuy nhiên cuộc sống lại luôn ẩn chứa sự bất ngờ của nó; chẳng hạn như những người quyết định rời  khỏi xứ thiên đường Omelas, điều mà có lẽ những người ở lại không ngờ đến. Ai lại bỏ đi khỏi nơi hạnh phúc?

Trong khuôn khổ của truyện ngắn và thành phố Omelas, mình đưa ra một số câu hỏi cho lớp thảo luận. Mình chia lớp thành  hai nhóm: ở lại và rời đi, nhóm ở lại thuyết phục nhóm rời đi đừng đi nữa. Rồi mình lại đặt tiếp một số câu hỏi gợi mở để các bạn cứ…nghĩ tiếp. Chẳng hạn: Vậy hạnh phúc có giá không? Điều gì là quan trọng: hạnh phúc cá nhân hay hạnh phúc của tập thể? Những người rời đi có hạnh phúc không, họ đã nghĩ gì? Có phải họ đang trốn tránh cảm giác tội lỗi khi ở lại không? Dù họ ra đi hay ở lại thì đứa trẻ sẽ vẫn phải chịu đựng khổ đau, vậy tại sao họ ra đi? Nếu tất cả mọi người cùng rời khỏi Omelas thì đứa trẻ kia sẽ thế nào? Tại sao người ta quyết định ở lại? Nếu bạn là công dân Omelas, bạn sẽ làm gì?

Còn bạn thì sao?

19.11.2016 – Bờm

Tài liệu tham khảo:

  1. Thuyết công lợi: http://triethoc.edu.vn/vi/thuat-ngu-triet-hoc/thuat-ngu-tong-quat/cong-loi-hoc-thuyet_538.html
  2. Mill, John Stuart. Utilitarianism. Auckland, NZ: The Floating Press, 2009.
  3. K., Le Guin Ursula. The Ones Who Walk Away from Omelas. Mankato, MN: Creative Education, 1993. Print.
  4. Morton, Adam. Philosophy in practice. An introduction to the main questions. Massachusetts, USA. Blackwell Publisher. 1996. Print.
  5. Xem thêm về thuyết công lợi và phản biện về thuyết công lợi ở: https://www.youtube.com/watch?v=7ptXHmGeMK4&index=6&list=PLSxRZK0JFOw0v6ZmEqDUP-f_DHdymnChj