về chuyện áo dài cách tân

Rằng:
1. Lẽ ra mình không định viết về áo dài cách tân hay áo dài “truyền thống” (tạm gọi như vậy) bởi vì quan điểm của mình về văn hóa là “sự lựa chọn”, nhưng sớm nay mình đọc được vài bài viết lên án áo dài cách tân gay gắt quá (thậm chí “ném đá” cả người mặc) nên cũng muốn góp lại mấy lời “gỡ gạc” cho phong trào mới này. Mình không dùng tư cách một người trẻ thích bận áo dài cách tân của hiện tại để viết mà mình muốn dùng “mình” của ngày xưa: một người đã từng cực đoan “bảo vệ” cho “truyền thống” rồi dần chuyển sang sự trung dung như bây giờ.

2. Theo nhà nhiên cứu Trần Quang Đức, áo dài ở Việt Nam có cột mốc lịch sử từ năm 1744 khi chúa Nguyễn, vì muốn độc lập với đàng ngoài về chính trị và văn hóa, đã ra lệnh cho nhân dân sử dụng trang phục mới: áo dài cổ đứng có khuy. (Đọc toàn bộ bài viết: https://goo.gl/m5rjSH). Như vậy, lịch sử của áo dài chưa tới 300 năm và nếu đồng ý lịch sử Việt Nam “bốn nghìn năm văn hiến” thì mình ngờ rằng “áo dài truyền thống” là một cách nói chưa hợp lý. Nếu hỏi lại cho kỹ “áo dài truyền thống” trông như thế nào, có lẽ mỗi cá nhân sẽ cho ra một hình ảnh khác nhau về chiếc áo ấy. “Áo dài truyền thống” là những bộ áo dài có tà chấm gót chân hay chỉ ngang đầu gối như thời kỳ đầu sau khi chúa Nguyễn ban lệnh; “truyền thống” là cổ đứng, cổ thuyền; hoặc nếu “truyền thống” hơn thì áo Giao Lĩnh thời Lê có được tính hay không? “Văn hóa”, cụ thể là trang phục, nên chăng chỉ là phong cách sinh hoạt của một cộng đồng trong một giai đoạn nào đó trong dòng chảy lịch sử mà sự thay đổi [kế thừa và phát triển] là việc tất yếu. Việc lựa chọn áo dài cách tân cũng là một sự biến trong dòng chảy đó, lấy hình ảnh “truyền thống” (chưa chắc có căn cứ) để chỉ trích áo dài cách tân là nên hay không?

3. Khi bắt đầu tin rằng “văn hóa” là sự lựa chọn, mình cũng đã học cách “chấp nhận” cuộc chơi. Chúng ta không thể lên án ai đó vì họ thích áo dài cách tân hay mặc áo dài với váy, đó là sự lựa chọn cá nhân; chúng ta cũng không thể nhân danh “cái đẹp” mà đa phần là quan niệm thẩm mỹ cá nhân để phán xét cách ăn mặc của tha nhân. Áo dài cách tân có những lợi thế của mình để được lựa chọn, thiệt tình thì mình tin là nếu áo dài cách tân “hỏng” thì đã chẳng ai lựa. Như vậy vấn đề ở đây không phải là mặc áo dài cách tân hay mặc áo dài “truyền thống” mà là số lượng các sự lựa chọn mà đại chúng có thể quyết định. Nhiệm vụ của các nhà nghiên cứu hay các bạn làm trong lĩnh vực thời trang là đưa ra tất cả các lựa chọn khả dĩ, “truyền thống” có, cách tân có, áo thời Lê có, áo thời Nguyễn có, áo năm cánh có, áo form suông có, vv và để cho đối tượng thụ hưởng quyết định. Gần đây, bên cạnh áo dài cách tân còn nhóm “Đại Việt cổ phong” – tập hợp các bạn trẻ hoài cổ đã phục dựng áo Giao lĩnh và một số phục trang triều Nguyễn, ấy là đưa thêm lựa chọn cho đại chúng. Biết đâu năm sau “mốt” cho ngày Tết sẽ là áo Giao lĩnh?

4. Một số bạn lấy lý do mình yêu di sản, yêu “văn hóa” để bài xích áo dài cách tân. Theo mình, thái độ và hành động này là chưa thỏa đáng vì ta đang cho rằng áo dài cách tân không phải là “văn hóa” hay không xứng đáng được xem là “văn hóa”. Mình thì nghĩ khác. Trong công cuộc bảo tồn và phát huy văn hóa, mình cho rằng “văn hóa” phải tồn tại trong đời sống một cách sống động, ít nhất là mức độ phủ sóng của nó đủ lớn để đại chúng nhận thức về nó. Thành ra việc áo dài cách tân có mặt khắp nơi trên phố cũng là một cái hay, người nào thích sẽ tham gia trào lưu, người không thích sẽ mặc áo dài “truyền thống”, có người sẽ tìm cách cách tân cho tinh tế hơn, có người lại nghĩ làm sao để bộ áo dài “truyền thống” hấp dẫn hơn; đều là tốt cho sự tồn tại của “áo dài” cả. Bởi vậy nên ngay cả việc tranh luận một cách văn minh về áo dài cách tân hay áo dài “truyền thống” cũng hay vì vấn đề áo dài sẽ được tiếp nối.

5. Chúng ta từng tiếc nhớ một thời các chị mặc áo dài ra đường, gào thét vì đến Tết ít người bận áo dài nhưng tại sao lại không thể mở lòng đón nhận những tà áo dài cách tân phủ sóng phố phường như bây giờ? Thiệt ra thì mở lòng chấp nhận sự thay đổi và sự đa dạng thì đời sống của mình cũng sẽ dễ chịu hơn, mình không phải phẫn nộ hay lên án, vừa tốn năng lượng và làm Tết hết vui. Nên chăng là những chia sẻ làm sao mặc áo dài cho đẹp, lúc nào thì nên và không nên mặc áo dài cách tân thay vì sự chỉ trích và bài xích (mà vốn là không thể cản được dòng “lũ” này, hehe).

6. Cuối cùng, mình cho rằng câu chuyện không phải ở chiếc áo mà là ở con người, ở cái “lễ” mà chiếc áo là một biểu tượng mà xã hội đã gửi gắm vào. Mặc áo sơ mi thay bộ vest ta được kỳ vọng hành xử nhã nhặn chuẩn mực; với bộ áo dài trang trọng ta sẽ thấy “sai sai” nếu đi hai hàng hoặc cười khả ố; mặc áo dài cách tân có thể năng động thoải mái nhưng ta cũng ý thức được một chừng mực nào đó. Đừng vì chiếc áo mà làm mất vui ngày xuân, quay về bồi đắp cái gốc cái “lễ” thì hơn.
Mùng ba Tết Đinh Dậu
-Bờm

 

Advertisements

Tết này sẽ pha trà

Tết này sẽ pha trà
Rằng:
1. Chiều nay ở nhà ngoại mình tìm được bộ ấm chén đơn giản bèn rủ cả nhà uống trà. Ông bà ngoại và mẹ lo mất ngủ nên không tham gia, thành ra còn ba cha con mình “chiến”. Mình lấy thêm ít mứt gừng cho ba ăn, được một nửa số gừng thì mẹ thảng thốt “trời ạ gừng để cúng mà!”. Mong thần Phật tha cho ba đứa mình.

2. Từ ngày lấy nhau, ba mẹ mình rời làng lên thành phố sinh sống nên mình không có nhiều thời gian với ông bà. Dĩ nhiên huyết thống vẫn là một sự liên kết không thể tách rời và những mảnh ký ức bé tí teo lúc còn nhỏ xíu về nhà ông bà chơi vẫn đủ để mình giữ cái thương trong lòng. Nói vậy nhưng tình thương cũng cần được được nuôi dưỡng và gần gụi như trồng một cái cây, thành ra mình thương nhưng không thân với ông bà. Lần nào về cũng chỉ chào nhau, hỏi han đôi ba câu chuyện rồi phụ ông bà làm bếp vậy thôi, mình thấy vẫn cứ xa xa thế nào. Bữa nay nhờ chén trà mà ông ngoại ngồi cùng tụi mình uống môt chút, ngó qua ngó lại để coi trà Ô Long trông như thế nào, bàn chuyện trà. Đó, tự nhiên gần nhau hơn.

3. Thực ra mình nhận thấy trà và việc uống trà là một công cụ giao tiếp vừa bổ vừa thú vị. Từ lúc chuẩn bị cho đến khi pha xong chén trà mời nhau là một dạng “ngôn ngữ” phi ngôn từ để kính đãi nhau, hoặc từ chén trà mời gợi lên nhiều sự vụ khác rồi chuyện trò. Có lẽ khi pha trà là đang thể hiện “sự có mặt” của mình cho người cùng thưởng trà, là cho họ thấy cái lòng của mình trong từng động tác. Còn người thưởng trà sẽ “nói” cho người pha biết họ đang có mặt cho nhau bằng cách quan sát, nụ cười cảm ơn khi nhận trà rồi đưa hết trà vào dạ dày… Thương nhau để bụng, ba mình đùa vậy đó. Mắt thấy tai nghe mũi ngửi mùi hương tay chạm chén nóng lưỡi nếm vị trà, cũng vì khả năng đánh thức các loại giác quan này mà có lẽ từ bây giờ mình sẽ thích rủ rê bạn mình thưởng trà hơn là những món uống pha sẵn đóng trong ly nhựa.

4. Tết năm ngoài quê mình mưa như tháng Mười. Ngồi trong nhà lành lạnh, nghe tiếng mưa mà có thêm chén trà nóng thì hay phải biết. Nghe nói đêm ba mươi thành phố không đốt pháo hoa để dành ủng hộ bà con bị lũ lụt vừa rồi nên mình đã có kế hoạch cho phút giao thừa. Mình sẽ mời cả nhà cùng… thiền trà, ngồi bên nhau phút đầu năm để giãi bày nỗi niềm năm cũ và chúc nhau năm mới an vui, thắp nén hương hồi hướng ông bà tổ tiên, ba mẹ sẽ lì xì,
mình và em gái sẽ khai đàn để đêm ấy không quá lặng lẽ. Ấy là xong ngày Tết.

5. Nói lại nha, mình không phải dân thưởng trà chuyên nghiệp, chỉ là dạo này có duyên gặp nhiều trà nhân “dụ dỗ” (^^), lại thêm mấy túi trà xinh được tặng từ những nhân vật dễ thương nên mình cũng tập tành pha trà. Với lại, uống trà ngon hơn uống nước trắng, ba mình cũng thích trà, còn cô em thì đang cần giảm béo. Hợp tình hợp lý quá rồi còn gì.

Hai mươi tám Tết Đinh Dậu.
– Bờm

 

Canada, JICA – những kẻ …nhiều chuyện

Rằng:

  1. Hình minh họa của bài viết này là Tu viện Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm thành lập vào năm 1840. Ngày 13/01/2017, trên trang Facebook của Tổng lãnh sự quán Canada tại TP.HCM (LSQCan) đã đăng hình Tu viện Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm cùng với tin tức chính quyền TP.HCM đang có ý định phá dỡ tu viện để phục vụ cho kế hoạch phát triển khu đô thị mới tại quận 2, đồng thời LSQCan cũng hỏi ý kiến cư dân mạng về vấn đề này (“Bạn nghĩ có nên phá hủy một di sản còn lâu đời hơn cả Canada?”). Rất nhiều ý kiến bình luận và chia sẻ bên dưới đã đề nghị LSQCan hãy góp tiếng nói để tác động đến chính quyền TP.HCM giữ lại tu viện Dòng Mến Thánh Giá, mình cũng là một trong những người tham gia.
  2. Một bạn đã để lại câu hỏi trên bài đăng của mình rằng “Tu viện này có liên quan gì đến Canada mà lại nhờ Lãnh sự quán của họ can thiệp? Nếu với cách lập luận vì nó còn lâu đời hơn Canada [177 năm so với 150 năm lập quốc của Canada] thì khi VN muốn phá vỡ công trình kiến trúc lâu năm nào đó là phải đi đối chiếu độ tuổi với tất cả quốc gia trên thế giới để xin phép các quốc gia có con số năm thành lập có liên quan à?”. Mình sẽ trả lời bạn ấy bằng câu chuyện… ba ngôi làng cổ ở Việt Nam.
  3. Cuối năm 2016 mình có dịp đến tham quan nhà cổ ông Kiệt thuộc làng nhà cổ Cái Bè (Tiền Giang). Ở làng nhà cổ này bạn có thể đăng ký để được ở homestay ngay nhà cổ, bơi xuồng trên sông hoặc, đạp xe quanh làng rồi chiều về ăn cơm nhà do chính người miền Tây chuẩn bị. Hiện tại, mô hình du lịch này đang được bạn bè quốc tế ưa thích, lúc ở nhà ông Kiệt mình đếm được hơn mươi người đạp xe đến chơi. Làng nhà cổ Cái Bè làm mình nhớ đến làng cổ Phước Tích – ngôi làng cổ thứ hai tại Việt Nam với 29 ngôi nhà rường đậm chất Huế nói riêng và miền Trung nói chung, cũng có mô hình du lịch homestay bài bản như thế này. Gọi là bài bản bởi vì để host khách, chủ hộ phải trải qua kỳ training và được cấp chứng nhận, đồng thời thức ăn phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Tuần trước gặp chú Thiên Lương ở Hà Nội, chú rủ đi làng cổ Đường Lâm – làng cổ nhất Việt Nam, chú nói ở đó mình cũng sẽ được ở homestay, được ăn thức ăn đậm chất Bắc Bộ và yên tâm về chất lượng vì người dân đã được tập huấn.
  4. Nếu bạn cảm thấy mô hình của các làng cổ ở Đường Lâm, Phước Tích và Cái Bè giống nhau thì JICA (Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản The Japan International Cooperation Agency) chính là lời giải đáp cho thực tế này. JICA đã sử dụng nguồn vốn ODA của chính phủ Nhật Bản để hỗ trợ Việt Nam trùng tu ba ngôi làng, tài trợ cho việc nghiên cứu, thậm chí còn tổ chức các buổi training cho người dân để thực hiện mô hình du lịch homestay kể trên. Nhà rường đủ chuẩn làm du lịch ở Phước Tích bắt buộc phải có bằng chứng nhận của JICA, tương tự cho làng Đường Lâm và Cái Bè.
  5. Mình đã hỏi anh Cội Việt y như cách bạn ở đầu bài hỏi mình, “mắc mớ gì người Nhật đi bảo tồn di sản cho Việt Nam?”, anh nói “vì họ sẽ học hỏi về văn hóa và sau đó họ sẽ làm kinh tế”. Tất nhiên, khi lên tiếng hoặc có hành động chăm lo cho Việt Nam, LSQCan hay tổ chức JICA sẽ gây thiện cảm, xây dựng hình ảnh PR tốt đẹp trong lòng người Việt; tất nhiên việc này sẽ hỗ trợ cho việc “làm kinh tế” của họ; tất nhiên cũng phải có “lợi ích” gì đó thì họ mới làm. Nhưng biết không, bên cạnh những “động cơ” mang tính “chiến lược” ấy còn là câu chuyện học hỏi về văn hóa, câu chuyện của những “đổ vỡ” và giá trị của lịch sử – văn hóa trong sự phát triển hiện đại.
  6. Trong quyển “Lãng du trong văn hóa Việt Nam”, tác giả Hữu Ngọc đã kể câu chuyện Nhật Bản thời kỳ “phát triển thần kỳ”, khi mà giá trị kinh tế được đặt lên hàng đầu, có ngôi làng nọ đã mất dần bản sắc của mình vì không giữ được…những mái nhà tranh truyền thống. Cho đến khi giật mình vì chung quanh chỉ có mái nhà bê tông và tâm hồn con người khô cạn vì không có các giá trị “văn hóa” nuôi dưỡng, người Nhật đã quay lại tìm cách khôi phục ngôi làng nói riêng và các giá trị văn hóa nói chung. Mình gọi đây là một “đổ vỡ” hoặc bài học kinh nghiệm sâu sắc mà khi đã trải qua, người ta sẽ dễ dàng rung cảm với những trường hợp tương tự. Mình có niềm tin rằng JICA hỗ trợ Đường Lâm, Phước Tích, và Cái Bè cũng vì cảm giác “nếu không làm thì sẽ muộn màng” này. Còn ở Canada, những công trình có giá trị lịch sử – văn hóa sẽ được bảo vệ nghiêm ngặt và trở thành niệm tự hào của người Canada vì họ có câu chuyện để kể với những người khác, có căn cứ để soi chiếu và tìm về lịch sử cá nhân thông qua những hiện vật của quá khứ, hay thực dụng hơn là làm du lịch, mang lại nhiều thu lớn cho họ. Mình nhớ đêm giao thừa 2016, một nhóm các bạn đốt pháo đã khiến lửa bắt vào một ngôi nhà gỗ được đánh dấu là “di sản” gần đấy và người dân của khu vực này, không cần ai huy động, đã đổ ra đường “cứu” ngôi nhà, trong cái lạnh 0 độ; cô chủ nhà mình vừa giận vừa nói “ai lại chơi pháo ở gần di tích như thế này, đây là tài sản quốc gia đấy”.
  7. Trở lại với câu hỏi của bạn vì sao LSQCan phải can thiệp vào việc giữ hay không giữ Tu viện Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm, mình thiệt sự cũng…không biết, có thể họ có mục đích, cũng có thể họ “nhiều chuyện”, hay chỉ đơn giản là họ có tấm lòng đối với các di tích lịch sử – văn hóa mà từ kinh nghiệm của mình, người Canada nghĩ “họ phải làm gì đó” không phải với tư cách “người Canada” mà chỉ đơn giản là công dân của một thế giới chung này mà thôi. Nếu dùng cái mác “dân tộc” để cho rằng “người Canada” không nên lo chuyện “người Việt” thì chúng mình chẳng cần phải lo lắng về giá USD tăng hay giảm, không cần bình luận kết quả tổng thống Mỹ hay số mệnh hiệp định TPP, lại càng không nên thực hiện các chiến dịch gom đủ 10 000 chữ ký trên trang change.org để đánh tiếng đến Nhà Trắng ở Mỹ, lại càng “bậy”nữa nếu nhận đồng vốn ODA của Nhật, nhỉ? Còn chuyện Việt Nam mỗi lần muốn làm gì phải phải đi so niên đại với các nước thì mình nghĩ đây chỉ là cách viết của bạn admin trang LSQCan để gây ấn tượng về tính lâu đời của tu viện mà thôi; và cho dù có lên tiếng thì LSQCan cũng không có thẩm quyền để quyết định việc giữ lại hay bỏ đi tu viện, họ chỉ có thể dùng sự ảnh hưởng để tác động đến quá trình đó mà thôi.
  8. Sau cùng, vấn đề chính của câu chuyện này vẫn là việc bảo tồn và giữ gìn những di sản văn hóa, sao cho hài hòa với sự hiện đại hóa, đô hiện hóa với tốc độ chóng mặt như hiện nay. Mình ủng hộ việc giữ lại tu viện không chỉ vì nó “cổ” đâu mà vì nơi ấy vẫn có thể đóng góp vào sự phát triển của thành phố này về kinh tế lẫn tinh thần. Về kinh tế, tu viện có thể cho phép tham quan, du lịch, hoặc chỉ làm phim, chụp ảnh (Đều là ý nghĩ thiển cận của mình thôi nhé); còn về tinh thần, nơi đây sẽ neo lại không chỉ đức tin của những người theo đạo mà còn “đóng băng” lịch sử để con cháu ta biết Sài Gòn đã từng như thế, hoặc chỉ đơn giản là khi ngán ngẩm những tòa nhà cao chọc trời, ta lại thèm nhìn một mái nhà lợp gạch đỏ và tiếng chuông chùa lúc về chiều thì sao? Mình mong sao Tu viện Dòng Mến Thánh Giá sẽ bình an ở lại với người Sài Gòn, như cách nhà thờ Đức Bà bao năm nay vẫn là một biểu tượng của thành phố này vậy.

16/01/2017 – Bờm

Bài của Tổng lãnh sự quán Canada: https://www.facebook.com/CanadaTaiHochiminh/posts/561066914092537

Bình luận của Giang Đặng: https://www.facebook.com/giang.dang.9469/posts/10154873885202008

 

châu Phi có gì?

Rằng:

Học kỳ này mình hay nói chuyện với một bạn đến từ Zimbabwe, bạn kể mình nghe về đất nước bạn và một châu Phi rất khác cách mà các phương tiện truyền thông đại chúng mô tả. Trong giọng điệu có chút châm biếm, bạn liệt kê những câu hỏi khó xử mà người khác bạn hỏi bạn khi biết bạn đến từ Zimbabwe như “Bạn có nói tiếng châu Phi không?”, “Bạn có ‘cưỡi’ sư tử đi học không?”, “Ở châu Phi chắc nhiều động vật hoang dã lắm hả?”, “Zimbabwe có thành phố không?”…

Sự thật là bạn mình chỉ mới thấy sư tử 2 lần từ…sở thú, bạn sống trong thành phố lớn “xịn” như trong hình, ngôn ngữ đầu tiên của bạn là tiếng Anh, sau đó mới đến tiếng Shona (là một trong những ngôn ngữ chính thức của nước bạn nhưng không phổ biến bằng tiếng Anh mặc dù Shona là tiếng bản địa), lớp trung học của bạn có khoảng 25 người và chỉ khoảng 7-8 bạn da đen, còn lại là các bạn…da trắng. Còn nữa, châu Phi là một châu lục có nhiều quốc gia, mỗi quốc gia có ngôn ngữ riêng của mình và không có thứ gọi là “tiếng châu Phi”.

Đói nghèo, nội chiến, động vật hoang dã, các bộ lạc, thảo nguyên, cây bao-báp cao to giữa sa mạc, tê giác,… là những hình ảnh quen thuộc mà truyền thông đại chúng hay dùng để mô tả châu Phi. (Bạn có thể thử tìm xem MV “Wildest dream” của ca sĩ Taylor Swift, MV này mang rất nhiều hình ảnh ‘đặc trưng’ châu Phi kiểu đó). Tất nhiên những hình ảnh kia không sai sự thật, nhưng nó không phải là tất cả cho toàn bộ một châu lục. Có một số giả thiết cho rằng việc chỉ đưa các hình ảnh hoang dã và đói nghèo của châu Phi là một “chiến lược” truyền thông của phương Tây, nhưng mình nghĩ đây cũng có thể đây là ‘lối mòn’ của khán giả khi tiếp nhận các sản phẩm truyền thông; không đặt câu hỏi, không trực tiếp chứng kiến tận mắt, hay không có người bản địa cùng chuyện trò,…

Tóm lại là châu Phi không chỉ có sư tử, đói nghèo, và người da đen nhé..

(Hình minh họa: Thành phố Harare ở Zimbabwe, http://nyati-travel.com/item/harare/)

11/12/2016 – Bờm

 

chuyện bảo tồn văn hóa ở Trung Quốc

Rằng:

Bữa nay có dịp ngồi trò chuyện với một chị bạn đến từ Trung Quốc về âm nhạc truyền thống của nước chị và Á Đông nói chung. Nhờ chị kể mình mới biết ở Trung Quốc, bạn sẽ được cộng điểm thi Đại học nếu như biết chơi nhạc cụ truyền thống, trình độ càng cao thì điểm cộng càng tăng. Do vậy mà nhiều bạn người Trung Quốc đã tranh thủ đi học các loại nhạc cụ truyền thống, không quá chuyên nghiệp  nhưng đủ để có điểm cộng; chị bạn mình cũng nói “có một số người chỉ học vì điểm cộng thôi đó, nhưng mà như vậy cũng tốt.” Ngoài ra, ở Trung Quốc có rất nhiều phụ huynh chuộng nhạc cụ Tây phương hơn nhạc cụ truyền thống, chị bạn mình cho rằng piano và violin là hai nhạc cụ được chọn nhiều nhất.

Trong các nhạc cụ truyền thống thì cổ tranh (guzheng)  là phổ biến nhất, ngược lại “tiền thân” của cổ tranh là cổ cầm lại ít được lựa chọn hơn, nếu không nói là nhạc cụ được ít người lựa chọn nhất vì độ khó của nó. Chị bạn chọn học sáo trúc, nghe bảo chị có 10-12 cây sáo khác  nhau, mỗi cây là một cao độ. Chị hẹn học kỳ sau sẽ mang qua vài cây để có dịp biểu diễn ở trường.

Tự dưng nghĩ ngợi miên man quá hè…

Trong hình là một số nhạc cụ truyền thống Việt Nam, bạn thử kể tên các bạn ấy xem nào ^^

06/12/2016 – Bờm

“Đường đến danh ca vọng cổ” và văn hóa cổ truyền trong bối cảnh hiện đại

Rằng:

Bữa nay tình cờ đọc bài báo kể chuyện hai mẹ con cùng nhau đi thi chương trình “Đường đến danh ca vọng cổ”, cô con gái còn ẵm theo con mình nữa: ba thế hệ trên sân khấu cải lương. Cảnh này làm mình xúc động thổn thức, bởi vì con đường sống của “văn hóa” chính là sự trao truyền tiếp  nối từ các thế hệ, từ những câu ca của mẹ làm con mê mẩn, rồi cứ  như vậy mà phát triển. Sau đấy mình tìm xem mấy tập nữa của “Đường đến danh ca vọng cổ”, vừa xem vừa vỗ đùi đeng đéc, lâu lắm rồi mới thấy ngành giải trí Việt Nam làm được chương trình “có tâm” đến vậy. “Đường đến danh ca vọng cổ” có format khá giống  một số chương trình truyền hình thực tế (THTT) gần đây; đó là có 3 huấn luyện viên lựa chọn thí sinh. Tuy nhiên, cái “cốt” hiện đại ấy đã được nghệ thuật sân khấu cải lương làm đầy cho phần “hồn” hết sức đàng hoàng và tinh tế.

Về hình thức, so với các chương trình thi vọng cổ và bolero đã có trước đó, “Đường đến danh ca vọng cổ” đầu tư hơn về sân khấu, âm thanh, trang phục và công tác truyền thông (fanpage của chương trình hiện có hơn 50 000 lượt theo dõi, mỗi tập đều có livestream Youtube để khán giả theo dõi, admin trang cập nhật và tương tác nhanh nhạy với khán giả). Đối với mình, đẹp nhất là hình ảnh từ ban giám khảo, MC, thí sinh cho đến “dàn đờn” (nhạc công) đều vận áo dài, áo bà ba hoặc các hình thức cách tân của trang phục truyền thống, trang phục cổ trang (nếu là thí sinh biểu diễn). Chỉ có thể nói là “trang nghiêm” – đâu ra đó, đường hoàng và tử tể.

Về nội dung (phần này bình luận hơi dài nghen), ban huấn luyện viên (Kim Tử Long, Ngọc Huyền, Thoại Mỹ) vừa vững chuyên môn lại rất tâm huyết. Có thí sinh ca rất hay nhưng không được chọn,  sau đó huấn luyện viên mới bình luận thiếu hơi ra sao, chữ nhả bị “cứng” như thế nào, “chồng hơi” chưa tới hay thần thái, khí chất chưa được ra làm sao. Nhờ vậy khán giả không chỉ hiểu lý do mà còn học được cách nghe cải lương, làm sao để biết ai ca hay ca dở. Thí sinh khi đi thi cũng rất đầu tư, về trang phục lẫn nội dung ca; cổ nhạc và tân cổ đủ cả. Các huấn luyện viên nói chuyện cực kỳ có duyên, nghe có “cải lương” một chút nhưng cũng hài hước vô cùng, cái hài duyên dáng chứ không phải kiểu nhắng nhít.  Mình đặc biệt thích màn đối đáp giữa huấn luyện viên – thí sinh hoặc phần bình luận của huấn luyện viên; từ những câu nói từ tốn có đủ chủ ngữ – vị ngữ chứa đựng tình cảm thiết tha cho nghệ thuật sân khấu cải lương mà mình thêm thương mến môn nghệ thuật này; đồng thời có thêm niềm tin vào sức sống của cải lương nói riêng, văn hóa nói chung trong bối cảnh hiện đại. Xem chương trình có thể học được một số từ ngữ trang trọng, lịch sự mà mình đã “quên” dùng, học cách nói chuyện nhẹ nhàng tình cảm, học cách mà cải lương thể hiện tâm tư tình cảm của mình qua lời ca tiếng hát…và để cho “văn hóa” thấm vào mình từng chút một như thế.

Một niềm vui khi xem chương trình nữa là dàn khán giả có rất nhiều bạn trẻ. Để kết bài xin trích lại bình luận của một khán giả trẻ trên kênh Youtube của chương trình: “Cảm ơn chương trình đã mang sức sống lại một bộ môn nghệ thuật dân tộc tuyệt vời đang dần chết mòn. Nhờ chương trình mà mọi người có thể hiểu được cái tình nghệ sĩ cải lương với nhau thật mộc mạc, nhưng rất nghĩa tình, và chân chất, đồng thời là sự yêu nghề, yêu tổ nghiệp mãnh liệt của họ. Hy vọng chương trình sẽ ngày càng nhận được nhiều sự ủng hộ của mọi người! Love you!”

03/12/2016 – Bờm

Mông Cổ không chỉ có ngựa

Rằng:

Từ xưa đến trước khi đăng bài này, mỗi lần nghe đến “Mông Cổ” là mình chỉ nghĩ về những thảo nguyên bao la, Thành Cát Tư Hãn, những người du mục và… ngựa. Lúc đầu mình cũng định dùng hình minh thảo nguyên – bầy ngựa để minh họa, chừng lại nghĩ nhân dịp này kể cả nhà nghe một vài thứ mình mới biết do chị bạn người Mông Cổ kể qua mấy lần nói chuyện và bài thuyết trình lớp ngữ văn. Trong hình là thủ đô Ulaanbaatar, nơi hơn 45% dân số tập trung  sinh sống (Dân số Mông Cổ khoảng 3 triệu người), thành phố này nhiều nhà cao tầng, xe ô tô, trung tâm mua sắm, không có ngựa chạy trong thành phố nghen.

Đất nước Mông Cổ, trước hết khác với vùng Nội Mông (Inner Mongolia) thuộc Trung Quốc; Mông Cổ giáp Nga ở phía bắc và giáp Trung Quốc ở phía nam, là quốc gia lục địa không có biển. Ngôn ngữ chính thức là tiếng Mông Cổ có hệ thống chữ viết là bảng chữ cái tiếng Nga thay cho một loại chữ truyền thống trước đó. Chị bạn mình nói đa phần người Mông Cổ hiện nay đều có thể đọc được chữ cổ nhưng không nhiều người viết được, thông thường người ta dùng loại chứ mới. Những người Mông Cổ ở vùng Nội Mông vẫn sử dụng chữ truyền thống. Chị bạn mình cũng có nói người Mông Cổ ở Mông Cổ không ghét người Mông Cổ ở Nội Mông. (Vùng Nội Mông hay được quảng bá với các hình ảnh giống nước Mông Cổ, tuy nhiên thực tế người Mông Cổ ở Nội Mông chiếm số lượng nhỏ so với người Hán và các dân tộc khác).

Khoảng gần 30% dân số Mông Cổ vẫn còn sống theo lối du mục, chủ yếu ở vùng nông thôn với hình ảnh gia súc và những ngôi nhà mái vòm dựng trên thảo nguyên. Năm loài vật linh thiêng của người nước này là ngựa, cừu, bò, lạc đà, và dê. Người Mông Cổ hiếu khách, cửa nhà hầu như không khóa để ai lỡ đường đi ngang có thể tự nhiên vào lấy thức ăn cầm hơi rồi đi tiếp. Có lẽ những người du mục hiểu sự vất vả của những cuộc hành trình xa nên không khóa cửa như tấm lòng luôn mở vậy. Người Mông Cổ cũng có tục trộm tất rất thú vị; các cặp vợ chồng mới cưới muốn có con sẽ sang nhà một gia đình (đã có em bé) trộm một chiếc tất (một chiếc thôi nha) đem về. Thành ra cửa nhà để mở suốt vậy mà lâu lâu mới có người ghé vô lấy, còn tất thì… hên xui.

Người Mông Cổ cũng có động tác chào (giống như người Thái chắp tay kiểu waii), đó là người nhỏ hơn giơi hai tay ra chào, người lớn hơn sẽ chạm hai tay mình vào người trẻ. Kể chuyện cũng là một nét văn hóa được khuyến khích gìn giữ,  nhất là hình ảnh các bà, các mẹ kể chuyện cho con cháu mình nghe. Tôn giáo phổ biến nhất ở Mông Cổ là Phật giáo Tây Tạng, câu chú thông dụng mà ai cũng ghi nhớ là Om Mani Padme Hum

Bài thuyết trình của chị bạn mình liên quan đến chủ đề người phụ nữ Mông Cổ được xã hội kỳ vọng như thế nào (tất nhiên là có kỳ vọng cho đàn ông nữa nghen, mà chị không trình bày kỹ nên mình không ghi ở đây). Có 9 điều một người phụ nữ “chuẩn Mông Cổ” cần phải thể hiện (số 9 cũng là con số linh thiêng đối với người Mông Cổ): Giỏi làm các công việc thủ công, tinh tế và sâu sắc đối với mọi người xung quanh, nhẹ nhàng đối với trẻ con, luôn thanh lịch, chung thủy với chồng, thân thiết với người nhà, hoạt bát năng nổ với cộng đồng, biết ơn người lớn tuổi, giữ trái tim trong sáng thuần khiến.

Điều mình bất ngờ nhất là chi tiết phụ nữ Mông Cổ được kỳ vọng phải hoạt bát năng nổ trong cộng đồng, nghĩa là trong một bữa tiệc hoặc một sự kiện cộng đồng, các cô gái Mông Cổ phải chủ động bắt chuyện, chào hỏi mọi người và tham gia các cuộc hội thoại sôi nổi; kj nhất là các cô im lặng lùi lũi ngồi một góc; nghe ra có vẻ hơi “lạ” với một số tiêu chuẩn cho phụ nữ từ các nền văn hóa khác.

Tuy nhiên, trong thời đại toàn cầu hóa và đô thị hóa, Mông Cổ hiện đại chắc chắn có những điểm đã thay đổi, nên mình nghe vậy chứ không “đóng khuôn” lên người Mông Cổ là phải như thế nào thế kia. Mỗi lần gặp chị bạn, mình hay trêu chị “hồi đó chị có cưỡi ngựa đi học không?”, bạn bè với nhau mới dám đùa như vậy chứ những ý tưởng kiểu như cưỡi ngựa tới lớp hay vòi nước vặn ra sữa hay được xem là các “định kiến” về Mông Cổ, cũng như phần kiến thức khiêm tốn mà ai chưa từng đọc qua về Mông Cổ sẽ khó biết.

Dẫu sao thì Mông Cổ không chỉ có ngựa nghen (dù số lượng ngựa đông hơn cả số người), còn nhiều thứ khác nữa. Mời  bạn nghe âm nhạc Mông Cổ, món này mình cũng khoái lắm đó (Người Mông Cổ có kiểu hát một lúc 2 âm vực khác nhau rất lạ, bạn thử tìm hiểu nhé. Ở Việt Nam có giáo sư Trần Quang Hải có thể hát được thể loại này). https://www.youtube.com/watch?v=JiP9WH0zN0Y

02/12/2016- Bờm