nhân chi sơ tính bổn gì?

Rằng:

“Trái với yêu không phải là ghét, mà là sự lãng quên. Trái với nghệ thuật không phải là sự xấu xí mà là sự lãng quên. Trái với sự sống không phải là cái chết mà là sự lãng quên…”

Câu ở trên được trích từ hồi ký “Night” [Tạm dịch: Đêm tối] đã đạt giải Nobel của nhà văn người Do Thái Elie Wisel. Trong “Night”, ông kể lại những ngày tháng kinh hoàng của ông khi còn là một cậu bé 16 tuổi trong trại tập trung với niềm tin “người sống sót” như ông phải có trách nhiệm kể lại lịch sử. Hình minh họa là những người sống sót từ trại tập trung Buchenwald (Đức) trong chiến tranh thế giới thứ 2, Elie nằm ở hàng thứ hai, thứ bảy đếm từ trái qua. Bài viết này mình ghi lại mấy điểm chính từ bài thuyết trình của các bạn cùng lớp.

Cô giáo cho tụi mình đọc phần lời bạt, chương đầu và chương cuối của “Night”, sau này cô có hối hận là nên cho tụi mình đọc hết sách. Tuy không đọc hết nhưng từ các chương được giao tụi mình đã mường tượng được chuyện gì đang xảy ra. Mùa xuân năm 1944, cậu bé Elie Wisel bị bắt giải vào trại tập trung cùng với  người cha ốm yếu, bệnh tật của mình. Trên đường di chuyển từ trại này sang trại khác cùng với quãng thời gian sống trong trại tập trung, Wisel đã chứng kiến cái chết đau đớn của cha mình, sự đau khổ vì bị hành hạ của những người Do Thái. Đau lòng hơn, theo ông là chứng kiến cảnh nhân tính và tình người bị chà đạp khi người ta sẵn sàng đánh nhau để giành mẩu bánh mì, khi người hành hạ người, khi mỗi ngày hàng trăm người chết hoặc nằm chờ chết, khi con người tuyệt vọng chỉ mong được “ban” cho một phát súng chết đi; thậm chí chính cậu cũng có lúc bị “thử thách” khi dằn xé suy nghĩ có nên chia nước và bánh mì cho cha hay không khi cả Wisel cũng đói lả.

Với những “dữ kiện” đó, bạn mình đã bình luận và đặt ra một số câu hỏi mở.

  1.  Nhờ có đứa con mà người cha ráng gượng sống bằng chút sức lực còn lại, cậu con trai cũng vì cha mà cố gắng. Tuy nhiên, có một lần khi Wisel định chia bánh và nước cho cha thì tên quản trại ngăn lại, nói với cậu rằng lẽ ra cậu đã được ăn nhiều hơn, no hơn, uống nhiều hơn, đỡ khát hơn nếu không chia cho cha cậu. Và Wisel đã khựng lại đặt cho mình vô số câu hỏi. Mối quan hệ cha – con trong hồi ký có ý nghĩa gì? Với một người sắp chết như cha của Wisel thì đây có phải là “gánh nặng” cho Wisel không? Tại sao khi biết nếu cho cha uống thêm nước sẽ không tốt cho ông nhưng Wisel vẫn cho cha vì không muốn thấy cha đau khổ?
  2. Những người ở trại tập trung có lúc rất tuyệt vọng đến mức chỉ muốn chết quách cho xong. Wisel nhìn bầu trời đêm nghĩ về bình minh, hoàng hôn và hy vọng cho một ngày tự do, dù có nhiều khi cậu hoàn toàn mất kết nối với đời sống vì bị hành hạ quá nhiều. Như vậy nghịch cảnh khiến người ta tin vào tương lai hơn hay sẽ tuyệt vọng hơn? Tại sao có những người muốn chết cho xong lại có những người như cậu bé Wisel tiếp tục chờ đợi?
  3.    Con người sinh ra bản chất tốt hay xấu? Nếu ở trong nghịch cảnh phải lựa chọn bảo toàn cho mạng sống của mình thì họ có tốt không? Tại sao những người trong trại tập trung lại đánh nhau giành mẩu bánh mì nhỏ? Tại sao tên quản trại lại rất khoái chí nhìn những người đó xâu xé nhau?

Bạn mình cho rằng “nhân chi sơ tính bổn ác”, bạn bảo con người tham lam chỉ muốn có nhiều hơn mà chẳng muốn dừng lại. Một bạn khác lại cho rằng con người vốn tính thiện vì biết giúp đỡ người khác và biết hy vọng.

Bờm bổ sung thêm: Bàn về bổn tính con người lúc sinh ra trước đây đã có Mạnh Tử (372-289 TCN) cho rằng “Nhân chi sơ tính bổn thiện” vì mỗi người đều có lòng trắc ẩn, biết xấu hổ, biết từ nhượng và biết thị phi [phân biệt đúng sai]. Trái lại Tuân Tử (298-238 TCN) cho rằng “nhân chi sơ tính bổn ác” vì vậy cần phải có các nỗ lực hậu thiên để tu dưỡng tính cách. Tuân Tử dẫn chứng về tính tham lam, nhút nhát, cả nể của con người để chứng minh người bổn tánh là “ác”.

Ở một khía cạnh khác, các triết gia hiện sinh, ví dụ như Jean Paul Satre lại cho rằng con người trước hết là hư vô [không có bản tính người nào hết], số phận [của con người] được xác định do lựa chọn của chính nó [con người]. Con người là dự phóng [hướng về cái mà nó muốn trở thành]. Câu  nói nổi tiếng của thuyết hiện sinh là “hiện hữu có trước bản chất”, nghĩa là mỗi người phải “hiện hữu”, phải sống với đầy đủ hỉ nộ ái ố rồi mới quyết định “bản chất” của mình. Thế nhưng thế nào là “thiện”, thế nào là “ác”? Làm thế nào để biết mình đã chọn được “bản chất”, mời bạn tiếp tục ngẫm nghĩ 🙂

21/11/2016 – Bờm

Tài liệu tham khảo:

  1. Sách “Lịch sử triết học phương Đông viết cho thanh thiếu niên”, tác giả Kang Sung Ryul, NXB Nhã Nam
  2. Ghi chép của mình từ buổi tọa đàm giới thiệu sách “Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản” (Jean Paul Satre) của dịch giả Đinh Hồng Phúc (Link: https://goo.gl/f2VRg4)
Advertisements

Ghi chép từ buổi tọa đàm sách “Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản” (J.P. Satre – Dịch giả Đinh Hồng Phúc)

Rằng:

Mình chia sẻ lại những ghi chép của mình từ buổi tọa đàm học thuật “Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản” (J.P. Satre) do dịch giả Đinh Hồng Phúc chủ trì (Tháng 05/2016) (Link sách: http://goo.gl/IWTucn)
Lưu ý: các tiêu đề trong bài viết là do mình đặt, dựa trên nội dung nói và quãng hơi ngắt nghỉ của dịch giả.

1. Giới thiệu bối cảnh và tác phẩm
1.1. “Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản” là một bài diễn thuyết viết năm 1945, khi Satre còn mang nhiều âm hưởng của Heidegger, với ngôn ngữ đơn giản nhằm biện minh cho thuyết hiện sinh (THS) trước sự phê phán của người Cộng sản và Công giáo. Cụ thể:
1.1a: Người theo chủ nghĩa Cộng Sản [ở Pháp]cho rằng THS là “xa xỉ phẩm của tư sản” vì nó [THS] khiến người khác không còn hành động, tự ru ngủ mình vào nỗi cô đơn duy ngã và cắt đứt quan hệ con người với kinh tế xã hội.
1.1.b: Mặt khác, người Công giáo phê bình THS ở điểm chỉ tập trung vào những phần đen tối, xấu xa của con người. Họ [người Công giáo] đánh giá THS là phi luân, phi đạo lý.

1.2. Đây là tác phẩm được đọc nhiều nhất bởi độ dày vừa phải (thầy dùng từ “ngắn và mỏng”), ngôn ngữ dành cho đại chúng nên dễ đọc; tuy vậy tác phẩm lại mang rất nhiều vấn đề triết học như “vô thần”, “hiện hữu”, “tự do”, “trách nhiệm”, “nhân quả”,…

1.3. Hai luận điểm trung tâm của tác phẩm: Thứ nhất, con người là hữu thể tự do mà không cần bất kỳ một vị thượng đế nào. Thứ hai, chúng ta phải chịu trách nhiệm cho tự do của mình. Tóm lại: Con người tự làm nên chính mình.

2. Giải thích và bình luận về THS và tác phẩm “Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản”

2.1. Trong tác phẩm, Satre phân loại hai nhóm THS: Hiện sinh Kito [hữu thần] và Hiện sinh vô thần. Tuy vậy, dịch giả cho rằng sự phân loại này chưa thực sự thấu đáo vì hai nhóm trên còn có các loại hiện sinh khác, chẳng hạn hiện sinh Do Thái giáo. Dù sao thì điểm chung của các nhóm THS này là đều tập trung phê phán thuyết bản chất – thuyết bản thể cơ bản của phương Tây.

2.2. Tiền đề chính của Satre trong tác phẩm là “Hiện hữu đi trước bản chất”, từ đó phân biệt giữa “tồn tại người” [Dasein] và tồn tại vật. Ví dụ: trước khi sản xuất cây dao rọc giấy, người ta đã cho nó một chức năng “rọc giấy” rồi mới tạo nên hình dáng cây dao. Ta nói chức năng rọc giấy là “bản chất” còn cây dao là “hiện hữu”. Trong trường hợp này “bản chất” đi trước “hiện hữu” [lối tư duy bản chất]. Satre, ngược lại, với khẳng định “hiện hữu đi trước bản chất” cho rằng tồn tại người [Dasein] trước hết phải ra đời, phải sống, phải lựa chọn [hiện hữu] rồi mới xác định mình là ai [bản chất]. Do đó, ông cũng chủ trương con người tự tạo ra chính mình.

2.3 Kết luận của phần này là: Con người trước hết là hư vô [không có bản tính người nào hết], số phận [của con người] được xác định do lựa chọn của chính nó [con người]. Con người là dự phóng [hướng về cái mà nó muốn trở thành].

3. Phân tích và bình luận về “ngụy tín”
Trong “Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản”, Satre có đề cập đến nhiều khái niệm như “lo âu”, “bị bỏ rơi”, “tuyệt vọng”; trong khuôn khổ chương trình, dịch giả chỉ đề cập đến khái niệm “ngụy tín” – một trong những khái niệm quan trọng cần lưu ý.

3.1. “Ngụy tín” là thái độ của con người khi quên mất mình là một “hữu thể tự do” bằng cách đổ lỗi cho những nguyên nhân bên ngoài mà thực chất là ta không giải quyết được các nguyên nhân đó. Ví dụ: cuộc đời tôi sinh ra là thế, đó không phải lỗi của tôi, dòng đời đưa đẩy chứ tôi nào muốn thế, vv.

3.2. Khi nói con người là “hữu thể tự do” và tự do thể hiện ở chỗ “con người tự tạo ra chính mình” thì vấn đề “trách nhiệm” đang được đặt ra. Không ai có thể chịu trách nhiệm cho số phận của ta ngoài chính ta, thậm chí Thượng đế cũng không tác động đến được. Một câu nói nổi tiếng của Satre là “Con người bị kết án phải tự do”, “kết án” để nói rằng bản thân “tồn tại” đã một “sự đã rồi”; còn “tự do” chính là sự thể hiện của một “hữu thể tự do”, anh phải chịu trách nhiệm cho sự lựa chọn của mình. “Ngụy tín” là khi anh làm lơ với trách nhiệm hay với sự tự do lựa chọn ấy. “Ngụy tín” chính là phủ nhận tự do, mà sau đấy thầy Phúc kết luận là “sống không đích thực”.

3.3. Nhắc đến “ngụy tín” thực ra là để biện minh cho THS khi bị hiểu lầm là “bản năng” hoặc “đam mê”. Thầy Phúc có đưa ví dụ thời sinh viên của thầy, mỗi khi các anh muốn đi nhậu thì hay nói “hiện sinh đi mày”; hoặc người ta hay lấy THS để chống chế cho đam mê. Thầy nói, kể cả là đam mê thì ta cũng phải chịu trách nhiệm cho sự đam mê của mình. Ví dụ, khi ta ném một con dao vào một khoáng không trong đem tối, nếu con dao đó gây chết người thì ta vẫn phải chịu trách nhiệm cho hành động ném dao đó, vì ta đã chọn sẽ ném dao.

3.4. Tóm lại: tự do đến dâu – trách nhiệm đến đó; tự do tuyệt đối – trách nhiệm tuyệt đối. Đây cũng là tinh thần “dấn thân” của THS [được hiểu là THS trong tác phẩm này].

4. Tại sao THS lại là một thuyết nhân bản (TNB)?
Quay trở lại với nhan đề tác phẩm, khi tuyên bố THS là một TNB (vốn đã có từ thời Hy – La), Satre đã ngầm ý nói rằng THS là một dòng chảy của TNB chứ không nằm ngoài dòng chảy đó. Thầy Phúc cho rằng TNB là một mạch nhầm xuyên suốt của phương Tây và bài diễn thuyết của Satre là để tuyên bố rằng tôi là một dòng chảy của TNB.

Kết thúc phần nói chuyện, thầy Phúc nhắc chúng ta hãy lưu ý vì tác phẩm “Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản” này được viết trong giai đoạn Satre còn bị ảnh hưởng từ THS của Heidegger; sau khi Satre trình bày tác phẩm này, Heidegger đã gửi thư phản biện Satre và sau đó hai ông “tuyệt giao”. Sau này, trong các tác phẩm của Satre đã loại bỏ hết hệ thống từ vựng của Heidegger mà thay vào đó hệ thống từ vựng khác. Tuy vậy tại Việt Nam các tác phẩm của Satre vẫn chưa được dịch nhiều, do vậy mà việc nghiên cứu Satre vẫn là một vùng đất mở cho các bạn nào quan tâm.

Sài Gòn, 20/05/2015 (Đăng lại từ “Nhật ký học  ngu”)